Mỹ Khúc (1)

By NGUYỄN THÁI THANH

 alt  
   


anh là thuyền

em là bến

bến vì thuyền mà đợi

thuyền vì bến mà về.

em vì anh
   
anh vì em

nên duyên ta thắm!


            
Cát Bà tháng 5/2010 ntt
 

 

More...

Biển Mặn...

By NGUYỄN THÁI THANH

 

 alt  
   


                                      Tặng N.

Vì anh em làm thơ

Giọt nước mắt lăn qua ngày biển động

Vì anh sóng xô bờ

Ngàn thương nhớ tan ra thành bọt trắng

Biển mặn chát niềm đau trầm tích

Em vì thơ

Nước mắt cạn lại đầy...

                             
                                         Cát Bà 25/05/2010 ntt



More...

Góc Nhỏ Phale

By NGUYỄN THÁI THANH

THẢNH THƠI

Rũ lòng ngày tháng cũ
Nghe lòng lâng lâng vui
Nắng vàng tươi như mật
Ướp lên môi giọt cười

Tiếng chim nhà ai hót
Rộn ràng ngõ hôm nay
Hay là chim cũng biết
Mình đang vui với ngày

Trong ngôn từ im ắng
Vừa trổ đóa tình thơm
Anh gởi sang cọ vẽ
Em tô màu xanh hơn

Thảnh thơi về trên lối
Có bàn tay anh chờ
Em lật trang lịch mới
Nụ cười lăn xuống thơ...

Phale 17.5.10

 

 
  
  
  
  
  



 GỞI HÌNH

Em gởi cho anh hình em mười tám
Anh gởi cho em hình của ấu thơ
Gõ vào Yahoo nụ cười nghiêng ngả
Sao chẳng đợi nhau.. để đến bây giờ..?

Hình như nụ cười lăn ngoài phím gõ
Để cả buổi chiều thành nắng lung linh
Đi quá nửa đời dừng chân ngoảnh lại
Mới biết sau lưng có kẻ chờ mình

Những tấm hình vui nhắc lòng tuổi trẻ
Thương quãng đường dài...chớp mắt vừa qua
Anh của ngày thơ và em thuở bé
Cút bắt trò chơi mà lạc cửa nhà...

 Phale 16.5.10
  

More...

Bốn Người Vợ Của Nhà Vua

By NGUYỄN THÁI THANH

Ngày xửa ngày xưa có một vị vua giàu có trị vì một vương quốc hùng mạnh. Ông có đến bốn người vợ bà hoàng nào cũng xinh đẹp. Nhà vua yêu người vợ thứ tư nhất và luôn chiều theo mọi sở thích của bà không bao giờ từ chối. Kế đến là người vợ thứ ba nhà vua lúc nào cũng sợ mất bà đi đâu cũng luôn muốn đưa bà đi theo. Bà vợ thứ hai là chỗ dựa tinh thần của nhà vua bà rất tử tế dịu dàng và kiên nhẫn. Mỗi khi nhà vua gặp chuyện khó khăn ông thường tâm sự với bà và thường nhận được những lời khuyên quý giá.

Người vợ thứ nhất của vua là người trung thành nhất giúp vua trị vì và làm cho đất nước ngày càng giàu có nhưng nhà vua lại không dành nhiều tình cảm cho bà. Nhà vua luôn nghĩ rằng bà có thể tự chăm sóc lấy mình nên ít khi để ý đến bà.

Không may một ngày nọ vua lâm bệnh và biết rằng mình không còn sống được bao lâu nữa. Ông nghĩ: "Ta có đến bốn người vợ nhưng khi ra đi e rằng lại hoàn toàn cô đơn!".

Nghĩ vậy nhà vua gọi người vợ thứ tư đến bên cạnh và nói: "Ta yêu thương nàng nhất luôn dành mọi thứ tốt đẹp cho nàng. Giờ đây ta sắp chết nàng có theo ta để ta không cô đơn không?". Nhà vua nhận được câu trả lời: "Bệ hạ rất tốt với thiếp nhưng yêu cầu đó quá khó thiếp không thể làm được!". Nhà vua lặng đi một lúc rồi cho gọi người vợ thứ ba bà trả lời: "Không thưa đức vua cuộc sống còn đẹp lắm sẽ có một vị vua khác đến để tiếp tục che chở và chiều chuộng thiếp!". Trái tim vị vua cảm thấy lạnh buốt vì buồn bã và thất vọng. Ngài lại gọi người vợ thứ hai: "Ta luôn được nàng giúp đỡ và khuyên giải nàng sẽ theo ta chứ?" - Nhà vua hỏi. "Lần này thiếp không thể giúp được gì hơn thưa đức vua" - người vợ thứ hai đáp - "Nhưng thiếp hứa sẽ chăm sóc bệ hạ đến những giây cuối cùng rồi sẽ đưa bệ hạ đến nơi yên nghỉ và sẽ luôn nhớ đến bệ hạ!". Nhà vua hoàn toàn tuyệt vọng.

Nhà vua không hề nhớ ra người vợ thứ nhất cho đến khi ngài nghe thấy một giọng nói cất lên bên cạnh: "Thiếp sẽ theo ngài đến bất cứ nơi đâu ngài đi tới dù đó là cõi chết". Đó chính là người vợ thứ nhất của ông. Trông bà mệt mỏi và gầy yếu. Buồn bã và nuối tiếc vô hạn vì cách đối xử của mình nhà vua thốt lên: "Lẽ ra ta đã phải chăm sóc và thương yêu nàng nhiều hơn mới phải!".

Bạn vừa được đọc một câu chuyện cổ tích trong đó có vua và các bà hoàng. Chúng ta không sống trong thế giới cổ tích nhưng bạn biết không nếu coi mỗi chúng ta cũng giống như nhà vua đó thì bạn hãy để ý xem mỗi chúng ta cũng có đến bốn "người vợ" đấy.

"Người vợ" thứ tư của chúng ta là cơ thể. Hầu như ai cũng lo lắng chăm sóc đến bản thân đến cơ thể mình nhiều nhất làm sao để trông thật đẹp đẽ. Nhưng khi chúng ta ra đi cơ thể ấy cũng tan biến không để lại gì trên đời.

"Người vợ" thứ ba có tên là "địa vị và của cải" - đây chính là những thứ dễ mất nhất vì dù sao chúng cũng chỉ là vật chất. Khi chúng ta không còn sống "địa vị" không còn và "của cải" sẽ thuộc về người khác.

"Người vợ" thứ hai là gia đình và bè bạn. Họ luôn quan tâm và giúp đỡ luôn an ủi và khuyên giải nhưng họ chỉ có thể chăm sóc ta đến những phút cuối cùng và nhớ thương ta.

"Người vợ" thứ nhất chính là TÂM HỒN. Không phải ai cũng nhớ đến nó khi sống trong một thế giới mọi người đều phải chạy đua với của cải địa vị để thỏa mãn cho cái "tôi" của mình. Thế nhưng TÂM HỒN là điều duy nhất luôn đi cùng với chúng ta đến bất cứ nơi nào chúng ta đến và chính là thứ để mọi người nhớ mãi đến ta dù ta có ở nơi nào.

Sưu tầm

  
  

More...

Nhân Đạo Khổng Giáo

By NGUYỄN THÁI THANH

Cơ sở động lực và tư tưởng căn bản của Khổng giáo là đức Nhân một đức Nhân bắt rễ thâm sâu tự đáy bản thể con người một đức Nhân mở rộng ra trong mọi lãnh vực sinh sống của xã hội và một đức Nhân vươn lên những chiều cao siêu việt của cuộc sống. Đức Nhân là cái tổng hợp kết tinh và quán xuyến tất cả đạo lý của Khổng Tử như chính ông đã nói: "Ngô đạo nhất dĩ quán chi". Chữ Nhân là một chữ hội ý gồm chữ người và chữ số hai ngụ ý nói về tương quan giữa người với nhau thực hiện đến một mức lý tưởng. Chữ nhân thường được diễn tả qua những tiếng: có tính người có tình người con người có lòng con người có bụng dạ. Nội dung gồm: tâm tình quý trọng kính mến yêu người tự trọng đối với chính mình và quý trọng cuộc sống; từ đó có thái độ bao dung đại lượng tin cậy cảm thông liên đới giúp giùm có khuynh hướng đặt mình vào địa vị của người và tìm hiểu người như hiểu chính mình.

Một số bình phẩm thường cho rằng đức Nhân trong Khổng giáo là tiêu cực có thứ bậc hay chỉ giới hạn trong vòng người thân không biết thương kẻ thù nghịch nhất là khi so sánh với Mặc Tử với thuyết Kiêm ái chủ trương yêu thương mọi người không phân biệt với Phật giáo qua giáo lý Từ bi dạy yêu thương tất cả vạn vật chúng sinh cũng không phân biệt với Cơ Đốc giáo chủ trương yêu thương đến cả những người thù nghịch với Lão Tử chủ trương lấy đức báo oán lấy điều lành mà ăn ở cả với những kẻ không lành (Đạo Đức Kinh). Những bình phẩm trên đây có thể có phần đúng nhất là sau này khi Khổng giáo đã bị chi phối bởi nhiều trường phái và các chính thể nặng pháp lý quyền hành và tư lợi. Nhưng một tìm hiểu đầy đủ chính xác và khách quan về đức Nhân trong Khổng giáo nguyên thuỷ sẽ đưa ta tới những khám phá không kém sâu xa bao la và cao cả.


Cái đức Nhân quán xuyến tất cả đạo lý của Khổng Tử đi từ bản thân qua người đồng loại rồi vươn lên những chiều cao siêu việt được diễn tả cô đọng trong những câu sau đây. Bắt đầu từ việc điều chế bản thân: "khắc kỷ phục lễ vi nhân": chế thắng lòng tư dục và theo về lễ tiết nguồn gốc đó là nhân (Luận Ngữ 12:1). Đối với người đồng loại thì có 5 đức tính diễn tả đức Nhân đó là "cung khoan tín mẫn huệ": kính cẩn khoan dung độ lượng trung tín siêng năng giúp giùm ban biểu ơn huệ (LN 17:6). Tránh cho kẻ khác những điều mà mình không muốn kẻ khác làm cho mình: Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân" (LN 15:23). Không những thế mà còn rất tích cực xem người như chính mình để làm cho họ cũng được thành nhân và thành đạt: "Kỷ dục lập nhi lập thân kỷ dục đạt như đạt nhân". Đức Nhân đó lại còn đi rất xa và mở lòng ra rất lớn không những kiêm ái một vài người hoặc trong vòng dăm ba người thân nhưng là đi đến hết mọi người và không còn phân biệt thân sơ không những giúp giùm trong đôi ba công việc nhưng là độ lượng và tận tụy đến kỳ cùng: "bác thí ư nhân nhi năng tể chúng": thi ân bổ đức cho khắp cả dân gian lại hay cứu tế cho đại chúng; được như thế thì theo Khổng Tử không những phải gọi là bậc nhân mà còn xem là bậc thánh nữa kia (LN 6:28).


Mạnh Tử cũng cùng một đạo lý đức Nhân như Khổng Tử đôi khi lại còn diễn tả một cách có thể hiểu xa hơn như về đức Nhân đối với kẻ thân cũng như người sơ: "nhân giả ái nhân": người có nhân thì yêu người (Mạnh Tử) và "nhân giả vô bất ái dã": người có nhân không thể không yêu người (Mạnh Tử). Hoặc khi nói về thái độ đối với kẻ tốt người xấu không phân biệt: "nhân giả dĩ kỳ sở ái cập kỳ sở bất ái": người nhân giúp đỡ từ chỗ thân ái đến chỗ chẳng thân ái (Mạnh Tử). Với thí dụ với một đứa bé rơi xuống giếng ai nấy đều động lòng trắc ẩn mà ra tay cứu vớt không phân biệt đứa bé là ai cũng không chờ khen chê.


Ngoài ra đức Nhân không chỉ có nghĩa trong lãnh vực luân lý mà còn thấu suốt bao trùm các lãnh vực văn hoá và tinh thần. Trong lãnh vực văn hoá đức Nhân phải đi cùng với trídũng. Có lòng nhân muốn cứu một người rơi xuống giếng không có nghĩa là cứ nhẩy ào xuống giếng nhưng là phải suy nghĩ tìm phương cách đưa nạn nhân lên. Lòng nhân cũng không có nghĩa là mềm yếu thụ động gặp hoạn nạn nguy hiểm thì ngồi bó tay than thở nhưng là nghĩa liệt can đảm và thực hiện những điều phải làm dẫu có gặp khó khăn. Có văn hoá còn là kẻ có nhân cách: biết suy nghĩ khách quan chính xác độc lập. Khổng Tử gọi những người này là người quân tử. Người quân tử biết hoà nhã nhưng không đồng tình việc làm quấy: "quân tử hoà nhi bất đồng" (LN 13:23) biết hợp quần mà không bè đảng: "quần nhi bất đảng" (LN 15:21). Có văn hoá cũng còn là có tâm hồn thẩm mỹ biết rung cảm trước những cảnh đẹp thi văn âm nhạc. Có lần Khổng Tử nghe nhạc Thiều (thời vua Thuấn) thích thú đến ba tháng không còn biết đến miếng ăn mùi thịt (LN 7:13). Ai không hiểu chút gì về nghệ thuật thì Khổng Tử cho là còn nửa con người mà thôi.

 Đức Nhân còn bao gồm cả lãnh vực tinh thần mà ngày nay ta gọi là bản vị là tính danh. Đó là bản sắc riêng biệt của một con người một nền văn hoá một dân tộc mà con người có đức Nhân cảm gắn bó liên hệ và có bổn phận duy trì và phát huy.


(Trích từ Thư mục HỘI NHẬP VĂN HÓA của ntt)

  
  

More...

Thế Giới Đạo Và Đức Của Lão Tử

By NGUYỄN THÁI THANH

1. Đạo và Đức: Để thực hiện một cuộc sống lòng dạ nên trống vắng những tham lam và tâm tư được hoà nhịp với lẽ thường hằng của thiên nhiên vạn vật Lão Tử đã chủ trương trở về với Đạo và sức sống kỳ diệu của Đạo là Đức.

a. Đạo: Chữ Đạo đã có từ thời cổ đại Trung Hoa với những Kinh Điển như Kinh Thi Kinh Thư Kinh Dịch... xuyên qua những tác phẩm cổ điển là Tứ Thư như Trung Dung Luận Ngữ Mạnh Tử... và thường xuyên được dùng trong ngôn ngữ và cuộc sống dân gian. Chữ Đạo diễn tả rất nhiều nghĩa từ những nghĩa vật chất luân lý tri thức siêu hình cho đến tôn giáo. Ngoài ý nghĩa Đạo là đường Đạo cũng còn có những ý nghĩa: phương tiện để đạt mục đích con đường phải đi theo con đường đức hạnh cơ sở của khôn ngoan trí huệ ý lực ngay thẳng đúng đắn giáo lý nguyên tắc luật lệ ý nghĩa của hiện hữu hay của một sự vật tác động ảnh hưởng nói giải thích lèo lái dẫn dắt.

Ta có thể đúc kết các nghĩa của chữ Đạo trong 3 loại: siêu việt hiện trần và con đường sống.
* Với nghĩa siêu việt Đạo chính là thực tại tối hậu: Đạo trong nghĩa này vượt quá tầm mức hiểu biết của con người. Ngay câu đầu trong Đạo Đức Kinh đã nói: "Đạo khả đạo phi thường Đạo" (Đạo mà nói ra được thì không phải là Đạo thường hằng). Dẫu thế Đạo "không diễn tả nên lời này" lại là cơ sở là gốc là ngọn nguồn và là cùng đích của mọi sự vật. Bên trên đàng sau và phía dưới mọi sự là cung lòng Đạo từ đây mọi sự sống được vươn lên và nơi đây mọi sự sống được trở về. Tác giả Đạo Đức Kinh đã đầy tôn kính và ngưỡng mộ chỉ biết thốt lên lời hoan ca khi được giáp mặt với huyền bí nguyên thuỷ của sự sống huyền bí của mọi huyền bí: Thật là cao sáng! Thật là tĩnh lặng! Phải là cái gì vô thuỷ vô chung không có bắt đầu không có cùng tận! Trong mọi vật lớn Đạo phải là cái lớn nhất: Gượng cho là lớn lớn là tràn khắp tràn khắp là đi xa đi xa là trở về; thật đây là cửa ra vào của mọi huyền diệu trong trời đất! (Đạo Đức Kinh câu: 1 14 16 21 25). Sự bất khả diễn tả đã là điều quá rõ rệt ta sẽ chỉ còn là rơi vào lời cảnh giác bao hàm chế riễu: "Tri giả bất ngôn ngôn giả bất tri" (Kẻ biết thì không nói kẻ nói thì không biết) - (ĐĐK c. 56).

* Mặc dầu siêu việt như thế Đạo đồng thời cũng là hiện trần. Trong nghĩa này Đạo dùng để chỉ cái Đạo Thiên Nhiên là chuẩn mực tiết nhịp sinh lực của trời đất nguyên lý của trật tự điều hành phía sau mọi sự sống. Phía sau mọi sự sống mà cũng là bên trong mọi sự sống; trong nghĩa này Đạo đã "thành xác thể" điều động mọi sự vật thích nghi với sự vật hoà đồng với sự vật: "làm nhụt bén nhọn tháo gỡ rối răm điều hoà ánh sáng đồng cùng bụi bặm: "đồng kỳ trần" (ĐĐK c. 4 56).

* Đạo trong nghĩa con đường sống: Vì Đạo theo nguyên lý là tinh thần hơn vật chất nên Đạo không hề vơi cạn càng được mong cầu càng nhiều ban cho vì Đạo là giếng nguồn không khô cạn. Đạo cũng mang dấu ấn "tàn nhẫn bất tất" vì với mùa thu đến không một chiếc lá nào vì lẽ nó đẹp không một bông hoa nào vì lẽ nó thơm mà lại được châm chước thứ tha không phải tàn lụi. Nhưng thực chất cuối cùng Đạo là lành là tốt; thay vì bức bóc đi nay Đạo lại ban cho sức mạnh can trường sự sống dẻo dai và là đầy tràn vì Đạo cũng là "mẹ thiên hạ" (ĐĐK c. 25). Là năng lực của thiên nhiên Đạo giống như khái niệm "sinh lực" (énergic vitale) của truyền thống Phi châu như quan niệm "đà sống" (élan vital) của Bergson. Là chuẩn lực của vạn vật Đạo giống như khái niệm "luật vĩnh hằng" (lex aeterna) của thời cổ đại kinh điển luật trường cửu gây tạo cơ chế cho vũ trụ thiên nhiên. Đạo hiểu như thế cũng giống như là "nguyên lý dung hội chủ toàn" một nguyên lý kết hợp và chuyển hoá các thành tố nên một để phục dịch toàn thể (principe integrant pour la totalité) của George Romanes bạn đồng nghiệp của Charles Darwin nhà khoa học chủ trương Thuyết tiến hoá.

b. Đức: Chữ Đức thường được hiểu trong một nghĩa luân lý như đức hạnh đạo hạnh kèm theo một chút ít màu sắc tôn giáo lễ nghi phong tục giới tính như khiêm nhu trinh bạch. Đức còn có nghĩa là khả năng thích ứng giỏi giang quả cảm đáng giá như khi nói về một con dao có khả năng cắt xén tốt. Đức còn là khả năng linh thiêng là linh lực sinh lực thần thiêng. Tiến thêm một bước nữa Đức là toàn thể nhân cách một con người cùng với linh lực phân xuất ra từ con người đó.
Đức trong Đạo Đức Kinh lại mang một nghĩa đặc biệt: Đức là sinh lực sinh lực cấp dưỡng nuôi nấng đùm bọc bồi bổ chở che. "Đạo sanh Đức dục" (Đạo sinh ra Đức nuôi dưỡng) - (ĐĐK c.51). Đạo là nguyên lý vô hình Đức là nguyên lý hữu hình Đạo là không tên Đức là có tên. Đức làm cho con người có thể trở nên như con đỏ (ĐĐK c. 55) trở về với đơn phác cùng với những đức tính như chính Đạo đã có (ĐĐK c. 25); Đức cao mà như trũng thấp Đức giầu mà như không đủ Đức vững mạnh mà như cẩu thả (ĐĐK c. 41). Đức là thiện là trung thực (ĐĐK c.49) là trung tín (ĐĐK c. 79) là không tranh chấp (ĐĐK c. 68 73) sanh mà không chiếm là của mình làm mà không cậy công là bậc trên mà không làm chủ đó gọi là Huyền Đức (ĐĐK c. 51). Những ai thật theo Đạo thì tích được nhiều Đức tích được nhiều Đức thì không gì khắc phục được không gì khắc phục được thì năng lực mình không biết tới đâu là cùng năng lực không biết tới đâu là cùng thì trị được nước nắm được gốc mẹ của đạo trị nước thì có thể tồn tại được lâu dài đó gọi là rễ sâu gốc vững là nắm được cái Đạo thường tồn (ĐĐK c. 59). Đức trong Đạo Đức Kinh có thể tóm kết vào ba điểm sau đây: *như là vật thuộc về Đạo và không thể phân lìa khỏi Đạo *bao gồm những đặc tính mà chỉ Đạo mới có *Đạo và Đức cùng bảo trợ và nuôi dưỡng thế giới hiện tượng.

2. Nhu mềm - nước trũng - tính nữ - lòng từ:
Điều mà trong Đạo Đức Kinh có lẽ đánh động độc giả hơn cả là tính nhu mềm tính nữ: nhu mềm và tính nữ trong Đạo trong Đức trong thế giới. Một điều đáng lưu ý là tính nữ ở đây có phần nào tương tự như tính âm nhưng lại vượt hẳn âm tính. Trong thuyết âm dương dương và âm thay đổi nhau để tác động; còn trong Đạo Đức Kinh thì tính nữ tính nhu mềm luôn thắng tính nam tính cường mạnh (ĐĐK c. 36 61 78). Đó là điều khác biệt và là một điều khác biệt lớn.

a. Nhu mềm: "Mềm yếu thắng cứng mạnh" (ĐĐK c. 36 78); "Cứng mạnh cùng loài với sự chết mềm yếu là bạn của sự sống" (ĐĐK c. 76) đó là câu Đạo Đức Kinh thường được trích dẫn và trích dẫn nhiều nhất là tư tuởng phổ biến nhất của Lão Tử. Ngay những người duy vật cũng thích dùng câu này áp dụng cho trường hợp những người yếu hèn và bị áp bức sẽ thắng những người hùng mạnh đàn áp. Đó là tư tưởng nằm trong truyền thống Trung Hoa được ghi lại rất nhiều trong kho tàng văn học triết lý tôn giáo nghệ thuật y khoa và cả đến trong các môn võ thuật.

b. Nước trũng và khe lạch: Nước tượng trưng cho sự ban cho mà không đòi hỏi đáp trả làm lợi ích cho vạn vật mà không tranh dành. Nước tìm đến chỗ trũng thấp nơi mà người ta thường xa tránh; nhưng chính vì thấp mà nước có lợi nhờ thế mà nước trở nên mạnh mạnh nhất mặc dầu nước là mềm yếu nhất trong mọi vật : Dưới trời mềm yếu không gì hơn nước / Thắng được vật cứng không gì bằng nước / Không gì thay thế nó được (ĐĐK c. 8 78).

c. Lòng Từ: Nhu mềm nước trũng khe lạch tính nữ... là những tư tưởng tiên phong dự báo cho một đức tính lớn lao hơn nữa đó là lòng từ. Lòng từ là báu vật thứ nhất trong 3 vật báu mà Lão Tử hằng ôm ấp nắm giữ và muốn trao đổi lại (hai báu vật kia là lòng kiệm và khiêm - ĐĐK c. 67). Lòng từ của Lão Tử nhắm trở nên hữu ích cho muôn loài (ĐĐK c. 8 34) giúp cho chúng nhân hối cải mà trở về (ĐĐK c. 64) lấy cái lòng của trăm họ làm lòng của mình (ĐĐK c. 49); nếu có phải tranh đấu thì cũng tranh đấu bằng lòng từ: như thế mới thật thắng mới giữ vững. Lòng từ quan trọng đến nỗi nếu Trời muốn cứu ai thì cũng cứu bằng lòng từ (ĐĐK c. 67). Điều ngỡ ngàng cảm kích và đáng tôn quý nữa là Lão Tử chủ trương một lòng từ với tất cả mọi người không chút phân biệt: cả người lành lẫn người dữ không một ai bị loại bỏ (ĐĐK c. 27 49 62). Lão Tử hỏi: Với kẻ không lành tại sao lại bỏ chúng? (ĐĐK c. 62). Không phải đây là chiến thuật dụ người: Với kẻ chẳng lành cũng lấy lành mà ở để được lành; với kẻ không thành tín cũng lấy thành tín mà ở để được thành tín (ĐĐK c. 49); Lão Tử cho biết lý do: Người theo Đạo thì xem tất cả mọi người như con mình (ĐĐK c. 49) và nhất là lấy chính Đạo làm mẫu mực; mà Đạo thì không những là chỗ ẩn náu sâu kín cho vạn vật là của chân châu cho người lành mà còn là nơi nương dựa cho kẻ không lành. Đến nỗi Đạo còn ban ơn cho mọi kẻ cầu xin và tha thứ cho kẻ có lỗi; cũng vì thế mà Đạo là "vật quý của thiên hạ" (ĐĐK c. 62). Những ai không biết được điều đó chỉ quý người lành mà không biết quý người chẳng lành thì dẫu họ được gọi là bậc trí thì thực ra họ cũng chỉ là kẻ mê lầm to. Đó quả thật là điều "huyền diệu" (ĐĐK c.27).

*** Thế giới Đạo và Đức của Lão Tử
không phải chỉ biết quan sát thiên nhiên vũ trụ. Mục đích của Đạo Đức Kinh là cuộc sống cuộc sống của con người thiên nhiên và xã hội.
Đối với Lão Tử Đạo là thực tại thâm sâu cuối cùng làm cơ sở cho mọi sự vật trong thế giới hiện tượng; sinh lực nuôi dưỡng điều hoà và phát triển vạn vật là Đức được quan niệm như một thuộc tính của Đạo. Điều rất quan trọng và đặc sắc là sinh lực của Đức hoạt động mãnh liệt nhưng âm thầm từ tốn khiêm nhu giống như nước như con mái như người nữ như người mẹ. Đạo Đức Kinh đã trình bày một khái niệm rất mới rất độc đáo và rất an nhiên về Đạo. Có thể nói tác giả của Đạo Đức Kinh phải đã có được một cái nhìn siêu hình rất mới và rất thâm viễn về Đạo mà các văn triết nhân trước đó chưa có được. Tác giả đã đem lại cho Đạo một nội dung mới mà trước đó trong tư duy triết học chưa hề có và sau đó chưa có ai đã vượt xa hơn.


(Trích từ Thư mục HỘI NHẬP VĂN HÓA của ntt)

  
  

More...

Kinh Nghiệm Giác Ngộ Của Đức Phật

By NGUYỄN THÁI THANH

Đức Phật trong thời gian bỏ nhà đi tìm đạo được gọi là sa môn Gotama ròng rã 6 năm trời đi học đạo với các lễ sư Balamôn cũng như thực tập các môn ăn chay phạt xác rất nghiệt ngã. Cuối cùng ông thấy giáo lý Balamôn cũng như các việc ăn chay phạt xác đều là vô nghĩa. Ông bèn tìm đến một gốc cây pippala (sau này gọi là cây Bồ đề) rồi suốt nhiều ngày trầm tĩnh nhiếp tâm theo dõi hơi thở và thiền định. Bỗng một buổi sáng sớm kia khi sao mai vừa mọc thì Gôtama quán chiếu được vạn vật là vô ngã nhưng đồng thời muôn loại chúng sinh đều có mặt trong nhau trong một tương quan đồng sinh đồng tử đồng hiện hữu - gọi là tương tức tương nhập tương tác - và vạn pháp của vũ trụ thế giới và lịch sử được thường tồn bất sinh bất diệt giống như sóng chỉ là hiện tượng mà trước sau vẫn thật chính là nước. Với cái thấy này sa môn Gôtama cảm thấy không còn bị ràng buộc vào lưới sinh tử; và do đó ông đạt được một tâm trạng an ổn không còn lo âu sợ hãi. Gôtama bừng sáng giác ngộ; ông bất giác mỉm cười nụ cười của ông như một bông hoa khi sao mai vừa mọc và khi trời vừa sáng. Gôtama nay được gọi là Bụt (buddha) nghĩa là người giác ngộ.

     IMG_2251 by you.  
                               Tháp Bút - Kinh Bắc (Ảnh: ntt)

 
Kinh nghiệm giác ngộ của Đức Phật là gì? Đó là kinh nghiệm về sự vô ngã cái vọng ngã của lòng tham: tham sinh tham ái tham dục tham thân suy tôn mình là chủ thể và chủ tể biệt lập đó còn là kinh nghiệm về pháp giới (dharma) nghĩa là về chân lý muôn vật có mặt trong nhau nương tựa vào nhau và thường tồn bất sinh bất diệt. Giác ngộ đây chính là đạt tới chân thức chân tâm nghĩa là được tham dự vào một thực tại lớn lao thường tồn bao trùm tất cả chúng sinh vạn vật. Nhưng một khi Sakyamâuni (mâuni là danh hiệu của người có lòng nhân ái) thấy được chân lý thì ông đồng thời cũng cảm được lòng thương xót đối với chúng sinh đang lặn ngụp trong mê lầm trong đau khổ. Nếu muôn loài chúng sinh là một thì không ai có thể thực sự hạnh phúc bao lâu mà chưa phải tất cả mọi người mọi loài trong vũ trụ và thế giới cũng được hạnh phúc. Do đó mà đức Phật đã trở về lại với các bạn đồng nghiệp sa môn ngày trước để trao đưa tin vui giải thoát trở về lại với chúng sinh khắp nước mọi miền - và như thế trên 40 năm trường - để chỉ bày con đường chân thức giác ngộ và giải thoát. Hai trong bốn lời thệ nguyện của những người theo chân đức Phật đã nói lên mối tương quan giữa thấy chân lý và lòng thương xót: Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn. Hiểu biết và thương xót chân lý và từ bi đó là những hệ quả thiết yếu của sự giác ngộ về chân tâm và chân thức.


Kinh nghiệm của đức Phật đã đưa Ngài tới chân tâm chân thức không phải qua giáo lý trừu tượng cũng không phải qua ăn chay hành xác nghiệt ngã nhưng là qua trầm tĩnh quán chiếu và thiền định. Thật là một điều lạ lùng vô cùng lạ lùng: Làm thế nào mà thiền định lại có thể đưa đến sự nhìn nhận được chân tâm chân thức? Đứng về tri thức luận mà bàn thì ta có thể nói lên một chân lý như sau: Bạn chỉ biết trà ngon khi bạn đích thân uống trà chứ không phải bạn nghe kẻ khác nói trà ngon. Đây là vấn đề tri thức và cảm nghiệm tri thức phân biện trừu tượng và trí huệ thấu thị trực kiến. Dĩ nhiên thiền định trọn nghĩa không chỉ là trong khi ngồi nhưng còn là trong trọn cả cuộc sống không chỉ là tập trung tư tưởng nhưng còn là gồm cả khắc kỷ tu thân ý thức trên mọi hành động và hợp thông với chân lý tối cao cũng như với muôn loại chúng sinh; thiền định như thế gồm cả cuộc sống trong Giới ĐịnhTuệ.

(Trích từ Thư mục HỘI NHẬP VĂN HÓA của ntt)

More...

Ngày Trở Về

By NGUYỄN THÁI THANH

 
Người về bên sông
  
  
 
  
  
  
  
  
 
  
  
  
  
  
 
  
  
                                                                               
  
  

Ngồi chân thành cổ
Nghe trong hơi gió
Ngấm giọt mưa dầm.

Người về như lá
Bên cổng vườn xưa
Chiều nay hóa bướm
Bay lạc đồi mơ.

Người về như mây
Vòng quanh núi xám
Nửa đêm nước tụ
Trắng xóa rừng cây.

Người về bỗng thấy
Thuyền con giấy mỏng
Thả giữa dòng xưa
Vẫn chờ trong mưa. 

                     Tác giả: Nguyễn Ước
 

More...

Thử Nhận Diện Con Người Việt Nam (Phần Cuối)

By NGUYỄN THÁI THANH

                                                                                                          Nguyễn Thái Hợp

4- THỜI TRANH TỐI TRANH SÁNG
Nói chung nếp sống tinh thần của Nho Lão Phật và Kitô giáo xây dựng trên đạo đức cá nhân với sự tự chế bên trong và sự kiểm soát của lương tâm cũng như của Trời Phật Chúa. Con người sống với nhau được ràng buộc bởi đạo đức cá nhân tình liên đới và tình đồng bào.
Tự cổ chí kim tiền tài sắc dục danh vọng tiện nghi vật chất... luôn mời mọc và quyến rũ con người. Trước ma lực của chúng không còn cách nào khác hơn là lựa chọn: buông thả sống theo xung lực sôi động của bản năng hay biết tự chế trước sức thúc đẩy của bản năng tự phát và thăng hoá dần những khuynh hướng xấu tiềm ẩn trong ta để tạo cho mình một nhân cách một sự nghiệp một thế đứng trong xã hội. Giá trị đạo đức cổ truyền đã góp phần tạo nên một lối sống cách thế ứng xử và sức tự chế bên trong giúp người dân sống ngay thẳng cố gắng làm lành lánh dữ biết sợ tội và gắn bó tình cảm với người thân bạn bè láng giềng đồng loại.
Kể từ năm 1945 ở miền Bắc và năm 1975 ở miền Nam các giá trị xã hội chủ nghĩa được sử dụng làm kim chỉ nam cho cuộc sống thay thế các giá trị đạo đức cổ truyền. Dưới thời bao cấp bộ máy tuyên truyền và những hình thức chế tài đã được Nhà nước sử dụng để thay thế những giá trị đạo đức cũ bằng đạo đức cách mạng và lí tưởng Cộng sản về một xã hội không giai cấp... Cho đến cuối thập niên 80 có thể nói các giá trị xã hội chủ nghĩa phần nào đã trở thành chuẩn mực cho cuộc sống và trở thành tư tưởng chủ đạo trong xã hội Việt Nam.
Nhưng từ khi bức tường Bá Linh sụp đổ và việc du nhập "kinh tế thị trường" các giá trị xã hội chủ nghĩa bị sói mòn. Không những về mặt kinh tế chế độ bao cấp đã đưa đất nước đến bên bờ vực thẳm mà ngay cả về mặt chính trị- xã hội cũng không còn đủ khả năng giải quyết các vấn đề thực tế và trả lời cho những khát vọng muôn mặt của con người. Xã hội Việt Nam đã rệu rạo mất định hướng và rơi vào tình trạng tranh tối tranh sáng.
Luật sư Nguyễn Ngọc Bích ví von việc "chuyển hướng từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường trong năm 1987 giống như một người điêu khắc lúc đầu định khắc một hình kim tự tháp được nửa chừng thì quyết định chuyển từ kim tự tháp sang hình cầu. Về mặt tri thức việc này khó. Phần nào của kim tự tháp phải cắt đi và cắt đi bao nhiêu để- trong ngôn ngữ chính trị- vẫn đạt được sự phát triển kinh tế mà không phải hi sinh an ninh quốc gia cũng như các lí tưởng của Chủ nghĩa Xã hội. Về mặt vật chất sự chuyển đổi kia giống như một chiếc xe buýt chở đầy khách và hàng hoá đang leo núi. Nửa chừng người ta khám phá ra chiếc xe không đủ nhiên liệu để đi lên đỉnh. Vì vậy chiếc xe buýt phải quay ngang không quay lại nhưng rẽ sang trái tìm cách đi về hướng biển mà không thấy có một con đường mòn nào trước mặt. Vấp ngã sa lầy nghiêng ngả của chiếc xe trên con đường đi xuống là không thể tránh được. Việc hàng rơi người ngã chỉ là hệ quả. Chiếc xe buýt tiêu biểu cho nền kinh tế thị trường định hướng hàng rơi người ngã tiêu biểu cho tư bản hoang dã. Chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường mà vẫn duy trì những giá trị xã hội chủ nghĩa là một điều chưa xẩy ra trước đây. Nó đòi hỏi chính phủ Việt Nam phải thực hiện nhiều công tác cùng một lúc từ việc chuyển những định chế hiện thời sang những cái phù hợp với nền kinh tế mới trong khi phải chống lại những cách suy nghĩ đã tồn tại từ nền kinh tế cũ".
Đất nước càng mở cửa thì sức ép của chế độ trên đời sống của người dân ngày càng lỏng lẻo. Lí tưởng xã hội chủ nghĩa hầu như chỉ còn là những kí ức xa mờ hay những khẩu hiệu đẹp đẽ của một thời đã qua. Kinh tế thị trường được áp dụng ở Việt Nam thực ra chỉ là một thứ tư bản hoang dã và chế độ tự do ở Âu Mĩ nhiều khi bị đồng hoá với thứ tự do phóng túng. Các giá trị đạo đức cổ truyền bị phủ nhận dưới thời bao cấp vẫn chưa được phục hồi đúng mức. Trong khi đó một số hình thức mê tín dị đoan và tục lệ trước đây bị nghiêm cấm lại bùng nổ ngoài tầm kiểm soát của nhà nước.
Tình trạng tranh tối tranh sáng và vàng thau lẫn lộn này gây hoang mang cho nhiều người đặc biệt là giới trẻ. Vì không được giáo dục theo tiêu chuẩn đạo đức cổ truyền đồng thời cũng chẳng còn lí tưởng xã hội chủ nghĩa làm chuẩn mực cho cuộc sống nhiều người đang chao đảo và mất định hướng tước cuộc sống mới. Thật vậy nếu không cảm nghiệm được giá trị đạo đức của những tiêu chuẩn tự chế bên trong mà cũng chẳng còn những hình thức chế tài bên ngoài của xã hội hay sức thuyết phục của đạo đức cách mạng thì cái gì sẽ là qui tắc chủ đạo cho cuộc sống nói chung và sinh hoạt kinh tế nói riêng?
Từ đó thiết tưởng chúng ta cũng không nên quá ngạc nhiên khi thấy một số người đã đồng hoá thị trường tự do với "tự do phóng túng" phi đạo đức và bất chấp luật pháp. Ngày xưa người ta phủ nhận mọi giá trị tâm linh chối từ Thượng Đế và đối xử tệ với khách hàng. Ngày nay để kiếm tiền nhiều người đã không ngần ngại phong cho khách hàng làm "thượng đế ! Một khi không còn giá trị đạo đức vắng bóng lương tâm thiếu vắng lí tưởng xã hội và tình tự quốc gia dân tộc... con người biết lấy gì để lấp đầy sự trống vắng kinh hoàng đó? Thôi thì ai muốn làm gì thì làm miễn sao kiếm được nhiều tiền và có nhiều cơ hội để hưởng thụ. Trong hoàn cảnh đó chúng ta hiểu được tại sao một số người trẻ đang choáng ngợp dưới vẻ quyến rũ của xã hội tiêu thụ sống buông thả phó mặc cho sự hấp dẫn của tiền tình rượi ma tuý!
Viết về con người và cuộc sống hôm nay cho thấu đáo với sự hiểu biết cặn kẽ về những thay đổi kinh tế tâm lí và xã hội hầu như người ta chưa tìm được một cuốn sách đắc ý. Đa số cá tác giả vẫn viết tiếp tục về chiến tranh và những ngày qua. Một vài người đề cập đến vấn đề đương đại thì nội dung quanh quẩn vụn vặt chưa dám xông thẳng vào những bức xúc và vấn đề của con người trong thời mở cửa.
Ít nhất Nguyễn Việt Hà trong cuốn "Cơ hội của Chúa" đã diễn tả một phần cuộc sống ở Hà Nội vào cuối thập niên 80 và đầu 90 với cái bức xúc sôi động quay cuồng của một xã hội đang trải qua cơn sốt vỡ da. Trong một xã hội xuống dốc đạo đức vắng bóng và khủng hoảng lí tưởng đó dĩ nhiên tiền được phong thần lên ngôi. Nguyễn Việt Hà viết thẳng thừng không rào đón: "Muốn biết rõ về ai nên nhúng người ấy nhiều lần vào tiền. Cái thứ dung dịch siêu thặng này làm trôi đi tất cả những mầu mè bọc ngoài. Đạo mạo trở lên hau háu lỗ mãng. Dịu dàng trở nên chua ngoa cướp giật. Lịch sử nhân loại chứng kiến số người tự tử về tiền nhiều gấp mười tám lần số người tự tự vì tình. Có phải thế chăng mà đến thời kinh tế thị trường nền văn minh của chúng ta chết sạch những nhà đạo đức thật".
Tâm nhân vật chính trong chuyện là một thanh niên đang học cuối năm thứ tư ban Kinh tế kế hoạch bỏ học để đi lao động hợp tác ở Đông Đức nhưng kì thực là để buôn lậu. Về nước Tâm xây nhà cưới vợ và lập công ti sản xuất hàng nhựa. "Công ti kí được ba hợp đồng có lãi cường độ sản xuất cao mà cung vẫn chưa đủ cầu. Nhưng cái gì đến phải đến. Không khí lạc quan phủ đầy ba tháng rồi tắt ngấm (...). Vấn đề đầu tiên vấp phải khá cổ điển: Nguồn vốn (...). Cú vấp thứ hai mang tính quyết định là mặt trái của nền kinh tế thị trường 93% các công ti tư doanh chọn sự lừa đảo làm kim chỉ nam của hoạt động nghiệp vụ. Khoảng hai năm sau bằng sự dốt nát thượng thặng của các quan chức ngân hàng hệ thống hợp tác xã tín dụng nhân dân ra đời. Nó chết yểu một cách logic để lại danh thơm là vụ bể bạc lớn nhất thế kỉ của nền tài chính. Nó xứng đáng là cú song phi cước liên doanh giữa Ngân hàng và Quỹ tín dụng đá đúng vào trung tâm dưới của các cụ về hưu. Các công ti đặc biệt là những công ti hay làm từ thiện lộ rõ bộ mặt bất thiện".
Tiểu thuyết "Hai nhà" của Lê Lựu diễn tả khá sắc nét bối cảnh xã hội và tâm lí của một số người trẻ ở giai đoạn tranh tối tranh sáng này. Trong lá thư tuyệt mệnh của Trần Địa gửi người em kết nghĩa Trần Thanh Tâm chúng ta đọc thấy những dòng thật xót xa về một thế hệ từng được nuôi dưỡng bằng "hận thù" và đấu tranh bỗng nhiên bây giờ lại ngụp lặn trong thứ "tự do phóng túng" cặn bã từ Âu Mĩ du nhập vào. Dưới đây là một đoạn tiêu biểu:
"Tôi và vợ tôi đều giống cô vợ chú những kẻ sống suốt đời bằng lòng hận thù. Tất nhiên lòng hận thù của tôi là có mục đích tôi sẽ kể sau còn vợ tôi và cô ấy nhà chú thì lòng hận thù hồn nhiên và đơn giản lắm. Nó hồn nhiên như thói quen tự nhiên như ta hút lấy khí trời mà sống. Vợ tôi và cô ấy nhà chú những lứa tuổi "con em" chúng ta âý (cả tôi và chú đều bằng tuổi bố vợ mình chứ còn gì) từ khi tập tễnh học nói và nghe hiểu được điều người khác nói là đã học căm thù chứ không học yêu thương ít ai dạy lòng yêu thương thành thật. Căm thù bọn giặc cướp nước và bán nước là lẽ đương nhiên hết sức cần thiết nhưng căm thù giầu sang có lúc lại căm thù đói nghèo căm thù dốt nát lạc hậu căm thù bố mẹ căm thù anh em căm thù vợ chồng căm thù con cháu nếu họ rơi vào cái khung địa chủ phú nông (...). Sống căm thù nhiều quá thành ra lúc yêu thương chân thật không quen. Thói quen "căm thù" của một cơ chế cũ cộng với không khí dân chủ lưu manh từ tây Âu và nước Mĩ đưa lại không phải chỉ phá tan tành lớp người như vợ tôi và vợ chú mà còn nhiều đổ vỡ tiếp theo nữa. Ai sống không đúng ý họ căm thù. Ai hơn họ căm thù. Ai bảo họ phải sống có "đất lề quê thói" họ bảo mất nhân quyền. Ai khuyên họ: Phải sống "đói cho sạch rách cho thơm giấy rách phải giữ lấy lề". Họ bảo "mất tự do". Ai bắt họ phải kính trọng yêu thương và nghe lời bố mẹ họ bảo mất dân chủ. Cái dịch căm thù" và "mất" khiến loại người như vợ tôi và cô ấy nhà chú không thể yêu ai hơn chính bản thân họ. Mà họ thì cái gì cũng thấy mình mất mất rất nhiều thứ nên phải cố giật lại chụp giật thật nhanh thật nhiều thứ cũng chả thấm tháp gì. Bao giờ cho đủ khi lòng tham của đàn bà muôn đời vẫn là cái thùng không đáy. Giá như chú hiểu được như thế thì chú bớt đau khổ đi rất nhiều".
Bên cạnh "con người tiểu kỉ" ngày xưa cùng với hai đứa con hư của thời bao cấp là "thói đạo đức giả" và "vô trách nhiệm" cơ chế thị trường hoang dã được áp dụng tại Việt Nam đã sinh thêm hai đứa con hư nữa: đó là "nóng ruột kiếm tiền" và "cắm đầu hưởng thụ". Mọi nhược điểm và tệ nạn khác của xã hội Việt Nam hôm nay có lẽ chỉ phát huy tác hại trong môi trường của mấy đứa con hư này. Nếu đất nước chúng ta còn đứng vững đến hôm nay đó là nhờ ông bà ta cũng sinh được rất nhiều người con ngoan khác. Chúng ta cần tích cực cộng tác với những người con ngoan để chống lại ảnh hưởng tiêu cực của mấy đứa con hư nói trên.


     
 

More...

Thử Nhận Diện Con Người Việt Nam (Phần II)

By NGUYỄN THÁI THANH

                                                                                                         Nguyễn Thái Hợp

2. DƯỚI THỜI PHÁP THUỘC
Vào cuối thế kỉ XIX bộ máy cai trị của thực dân Pháp đã ổn định. Năm 1877 nghĩa quân của Mai Xuân Thưởng ở Bình Định- Phú Yên bị Trần Bá Lộc đánh tan tành. Tám năm sau 1895 Phan Đình Phùng bị bệnh lị và từ trần ở Hà Tĩnh. Nghĩa quân của ông số tuẫn tiết số chạy trốn ra nước ngoài số còn lại ra đầu thú để mong được an thân nhưng rồi cũng bị người Pháp giết gần hết. Hai năm sau ở Bãi Sậy tiếng súng đã im bặt và Nguyễn Thiện Thuật phải trốn sang Tầu. Cũng vào cuối năm đó Đề Thám tạm giảng hoà với Pháp để lập ấp ở gần Nhã Nam vào năm 1898.
Được rảnh tay với công việc bình định thuộc địa nhà cầm quyền Pháp bắt đầu khai thác và phát triển Việt Nam. Một mô hình xã hội mới đang được hình thành với những thay đổi rõ rệt về cơ cấu chính trị sinh hoạt thương mại tổ chức xã hội đường hướng giáo dục nếp sống lối nghĩ. Đường giao thông cơ sở hành chánh trường học bệnh viện và thị trấn thi nhau mọc lên. Đô thị chiếm vai trò chủ yếu trong mọi sinh hoạt chính trị kinh tế văn hoá xã hội. Văn hoá Tây phương và nếp sống mới bắt đầu lan toả thâm nhập ngay cả đàng sau luỹ tre làng và bên trong các gia đình.
Ngay cả nhà Nho yêu nước vào đầu thế kỉ XX như Phan Bội Châu nhất là Phan Chu Trinh Trần Cao Vân Huỳnh Thúc Kháng... cũng chấp nhận sự thấp kém và bế tắc của chế độ quân chủ chuyên chế theo ý thức hệ Nho giáo so với ưu thế của văn minh Tây phương. Thấm thía nỗi nhục của người dân mất nước họ kịch liệt lên án chế độ phong kiến của ta và ca ngợi chế độ dân chủ của người. Các tư tưởng dân chủ của các tác giả nước ngoài như J. J. Rousseau Voltaire Khang Hữu Vi Lương Khải Siêu được đề cao.
Thay vì giải pháp bạo động và vọng ngoại Phan Chu Trinh đề nghị phát động phong trào duy tân nhằm mục đích "chấn dân khí khai dân trí hậu dân sinh". Ngược với quan điểm của đại đa số nhà cách mạng lúc đó muốn cầu viện Nhật hay Tầu Phan Chu Trinh chủ trương "tự lựckhai hoá". Mấy dòng ngắn ngủi sau đây viết tại Côn đảo bộc lộ tâm huyết và chí hướng của ông: "Chưa có tư cách quốc dân độc lập dẫu có nhờ sức nước ngoài chỉ diễn cái trò "đổi chủ làm đầy tớ lần thứ hai" không ích gì (...). Mình không tự lập ai cũng là cừu địch của mình Triều Tiên. Đài Loan cái gương rõ ràng người Nhật chắc gì hơn người Pháp".
Phong trào Duy tân chủ trương Âu hoá theo mô hình Nhật Bản và coi đó như đường cứu quốc khả thi nhất. Yêu cầu bãi bỏ lối học từ chương và con đường khoa cử ngày xưa để mở học đường theo kiểu phương Tây. Họ đề nghị lập hiệu buôn và phát triển thương nghiệp và khuyên quốc dân theo lối sống mới: cắt tóc ngắn bỏ tục nhuôm răng mặc Âu phục...
Vào khoảng cuối thập niên 20 chế độ thuộc địa đã khai sinh lớp người mới theo Tây học và làm biến đổi xã hội nho phong cũng như thôn ấp ngày xưa. Trước hết việc khai thác kinh tế thuộc địa đã tạo ra một lớp doanh nhân bản xứ. Họ chính là lớp phú hào mới và hấp thụ nhanh chóng nếp sống Tây phương. Việc phát triển kinh tế khuyếch trương thương mại và mở mang hay kiến thiết đô thị tạo nên nhiều việc làm: công chức tiểu thương công nhân thủ công nghệ... Đông đảo quần chúng rời nông thôn để lên thành thị kiếm sống. Với thời gian họ trở thành dân thành phố với nếp sống nếp nghĩ và tâm lí khác hẳn với quần chúng tại nông thôn. Đặc biệt việc thay thế Hán học cổ truyền bằng chương trình Pháp đã tạo ra một lớp trí thức mới xuất thân từ trường Tây thông thạo ngôn ngữ hiểu rõ văn hoá tư tưởng và nếp sống phương Tây hơn các nhà Nho yêu nước trước đây.
Ba thành phần này có điểm gặp gỡ chung là sống gần người Pháp trong khung cảnh đô thị và đường lối sịnh hoạt do chính quyền thuộc địa tạo ra. Họ tiếp thu nhanh văn hoá phương Tây. Về kinh tế nếp sống của họ tiện nghi và thoải mái hơn dân quê chân lấm tay bùn. Về văn hoá đời sống thành thị văn minh cởi mở tự do và dân chủ hơn nếp sống u buồn sau luỹ tre xanh.
Từ khung cảnh văn hoá Tây phương và điều kiện sống mới ở thành thị giới trí thức trẻ gắt gao đả phá xã hội nho phong cũ và hăng hái truyền bá lối sống mới. Họ cương quyết loại trừ mô hình đại gia đình "tứ đại đồng đường" với chế độ gia trưởng với những bổn phận hiếu đễ tam tòng tứ đức. Theo họ những tục lệ cũ như cúng tế lễ bái kiêng kị huý nhật cha mẹ đặt đâu con ngồi đó... được coi là lạc hậu cần phá vỡ để giải thoát con người. Cần tôn trọng nhân phẩm hạnh phúc và quyền tự do lựa chọn của cá nhân trong hôn nhân.
Nhóm Tự Lực Văn Đoàn được thành lập với mục đích hô hào bỏ cũ theo mới. Văn đoàn triệt để chủ trương đổi mới và thẳng tay phá đổ tất cả những cái cũ cản trở bước tiến của họ. Trong cuộc chiến này văn đoàn sử dụng nhiều thứ khí giới khác nhau nhưng thứ khí giới lợi thế nhất vẫn là tiểu thuyết. Hai tác phẩm tiên phong là "Đoạn Tuyệt" của Nhất Linh và "Nửa Chừng Xuân" của Khái Hưng. Nhất Linh kịch liệt đả phá tất cả những tệ đoan hủ tục mê tín dị đoan... của xã hội cũ để sau đó xây dựng một nếp sống tiến bộ hơn. Rất tiếc là hình ảnh xã hội mới còn rất mơ hồ và mung lung ngay cả con đường cách mạng được giới thiệu qua nhân vật Dũng còn chưa có gì rõ nét.
Qua ngòi bút của Nguyễn Tường Long tức Hoàng Đạo được coi là nhà xã luận của nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã bắn thẳng vào Tam Giáo cổ truyền: Những lí tưởng của các cụ xưa không hợp với trình độ học thức của thiếu niên nữa. Nho giáo lung lay sắp đổ sắp sửa theo mấy nhà thâm nho còn sót lại mà tiêu diệt với thời gian. Còn đạo Lão đạo Phật chỉ đem lại cho thiếu niên những tư tưởng chán đời ta không thể nương tựa vào đấy mà sống còn được".
Tạp chí Phong hoáNgày nay cũng lớn tiếng đòi cải cách hương thôn. Nguyễn Tường Long viết về nếp sống nông thôn như sau: "Ta phải thay thế cái mớ lễ nghi cũ rích nó phân đẳng cấp xằng nó xướng lên một miếng giữa làng bằng một sàng trong xó bếp bằng một cái lễ nghi mới. Những điều lễ nghi mới ấy dạy cho dân quê rằng một người trong làng là một người công dân có đủ quyền tự do làm một người công dân dù là một bạch đinh hay một ông Lý ông Chánh quý hồ mình góp đủ sưu thuế theo đúng luật lệ là không ai ức hiếp được mình chớ không cần phải khoác cái chức nọ chức kia".
Đối với nền luân lý cũ Nguyễn Tường Long tuyên bố không úp mở: "Nền luân lý ấy bắt ta phải bái phục lời nói cổ nhân dầu lời nói sai cũng mặc không được đem lí luận ra mà bẻ bác. Cha mẹ đẻ ra ta thì những câu bảo ban ta phải cúi đầu vâng theo dù những câu ấy trái với tư tưởng của ta. Mà kể thực ra thì dưới chế độ đó ta chẳng còn có tư tưởng gì nữa mà ta là của gia đình. Chữ tự do cá nhân là một chữ từ xưa đến nay ta không biết nghĩa là gì. Ngày nay cái óc biết suy xét của ta bắt ta không nhắm mắt như xưa mà bắt ta đem lẽ phải lương tri ra mà suy nghĩ cứu cánh mọi sự ở đời".
Cũng chính Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long đã đưa ra "Mười điều tâm niệm" để kết hợp các phần tử trẻ tiến bộ hầu tạo một lực lượng cách mạng trong tiến trình đòi hỏi tự do và dân chủ: "Thanh niên nam nữ phải dứt khoát theo mới phải tin ở sự tiến bộ phải có lí tưởng dấn thân hành động phải bỏ óc vị kỉ để góp sức xây dựng xã hội phải cố gắng rèn luyện nghị lực và một thân thể cường tráng phải loại trừ mê tín dị đoan xây dựng tinh thần khoa học bài trừ thói cẩu thả học hỏi cách quản lí và tổ chức. Cuối cùng phải xem thường danh lợi nhỏ mọn của xã hội phong kiến và thực dân để lo xây dựng một sự nghiệp lớn lao cho ngày mai.
Những nhận xét của Hoàng Đạo khá sát với một thực tế xã hội đang bị chìm ngập dưới lớp bùn của Tống Nho thời đó. Một điều đáng tiếc là tác giả Mười điều tâm niệm chưa sáng suốt "gạn đục khơi trong" chắt lọc phần tinh hoa trong gia sản của dân tộc.
Cùng với phong trảo thể dục- thể thao phong trào thẩm mĩ và cải cách y phục nữ ra đời. Năm 1934 hoạ sĩ Nguyễn Cát Tường hô hào trên báo Phong Hoá: "Ngày xưa các cụ ăn mặc cốt để che khuất thân thể nên làm ra một bề ngoài lụng thụng bây giờ phải ăn mặc sao cho dáng điệu thân thể được tự nhiên phô bày. Hay có khi để chữa cái dáng điệu ấy được uyển chuyển thướt tha thêm". Trong bối cảnh đó chiếc áo dài Cát Tường xuất hiện và chẳng bao lâu lan tràn từ Hà Nội về các tỉnh từ Bắc vào Nam.
Nói chung giới trí thức Tây học đã ý thức về hạnh phúc cá nhân tự do kết hôn quyền bình đẳng nam nữ nhân cách tự lập sáng tạo trách nhiệm... Dĩ nhiên đây chỉ là một thiểu số tiểu tư sản rất ít ỏi sống ở thành thị. Đại đa số người Việt Nam vẫn cam chịu thân phận người dân bị trị nghèo khổ và lạc hậu. Vì điều kiện nghiệt ngã của lịch sử Việt Nam vào giai đoạn đó mô hình "người trí thức tự do" vừa ló dạng và chưa kịp phát triển đã bị đi vào quên lãng. Nó chỉ để lại một số dấu ấn mờ nhạt ở thành thị và chưa có ảnh hưởng quan trọng nào trên nếp sống cũng như lối nghĩ thâm căn cố đế ở nông thôn.
Về phương diện kinh tế Việt Nam lúc đó mới chập chững bắt đầu phát triển và bị chi phối nặng nề bởi chế độ thuộc địa. Trên tổng thể Việt Nam lúc đó vẫn là một nước nghèo chậm tiến và bị đô hộ. Nhưng đó là tình trạng chung của các nước Đông Nam Á nên sự khác biệt giữa Việt Nam với các nước láng giềng hầu như không có. Bảng đối chiếu sau đây của tiến sĩ Lê Đăng Doanh nguyên viện trưởng nghiên cứu quản lí kinh tế Trung ương cho chúng ta một ý niệm: "Nếu lấy mốc tính là năm 1950 thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam bằng 80.5% của Thái Lan thì năm 1999 chúng ta chỉ còn bằng 20%. So với Hàn Quốc thì năm 1950 ta bằng 85 5% tức Hàn Quốc với Việt Nam lúc bấy giờ cũng đói như nhau còn bây giờ ta chỉ còn bằng khoảng độ 11 12% Hàn Quốc. Lúc bấy giờ ta giầu có hơn Trung Quốc Trung Quốc lúc bấy giờ đói khổ hơn ta. Ta bây giờ thu nhập bình quân đầu người bằng khoảng 20% Trung Quốc mà thôi". Các con số trên đây cho thấy các nước láng giềng đã phát triển mạnh trong mấy thập niên vừa qua còn Việt Nam đã dậm chân tại chỗ hay tiến quá chậm. Kết quả hiển nhiên là sau 50 năm khoảng cách giữa họ và ta thay vì thu hẹp lại đã nới rộng thêm.

3. ẢNH HƯỞNG THỜI BAO CẤP
Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 đã tạo nên một sự thay đổi lớn lao và triệt để trong mọi lãnh vực chính trị kinh tế văn hoá xã hội... Chính quyền cách mạng được thành lập để thay thế cơ cấu chính trị cũ. Hiến pháp mới được ban hành nhiều đoàn thể cách mạng ra đời. Vai trò của Nhà nước và xã hội được đề cao trong khi vị trí của gia đình trong cuộc sống toàn xã hội bị giảm nhẹ và thu hẹp. Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa xây dựng trên cơ sở cộng đồng xã hội coi cá nhân chỉ tồn tại trong xã hội cộng đồng xã hội bằng hành động tập thể bằng nhà nước tập quyền hành động theo kế hoạch không gián đoạn để thực hiện một lí tưởng chung đã vạch sẵn là chủ nghĩa Cộng sản để đem lại tự do hạnh phúc cho mọi người".
Con người xã hội chủ nghĩa chủ yếu sống với xã hội và sống cho đoàn thể chứ không phải sống trong gia đình. Hậu quả tất nhiên là con người có thói quen hành xử như một thành viên của tổ chức một bộ phận phụ thuộc và phục vụ đoàn thể thay vì là một nhân vị tự tại tự lập có trách nhiệm và sáng tạo.
Trong giai đoạn đó tất cả các tổ chức làng xã và quan hệ họ hàng được vận dụng tối đa để phục vụ kháng chiến. Có những lúc phải triệt để "tiêu thổ kháng chiến" và di tản tản tất cả về nông thôn. Dần dần đi đến chỗ nông thôn hoá đô thị trường học và cả nếp sống. Nền kinh tế căn bẳn vẫn là nông nghiệp. Cơ cấu tổ chức khép kín và hình thức gia đình cũng rất đơn điệu. Theo giáo sư Trần Đình Hượi trong thời bao cấp chủ yếu có hai loại gia đình tiêu biểu: gia đình xã viên và gia đình cán bộ.

a)- Gia đình xã viên: Vì nông thôn đã hợp tác hoá nên mọi người phải gia nhập hợp tác xã và trâu bò nông cụ cũng tập trung ở hợp tác. Gìơ lao động theo kế hoạch và sản xuất theo hợp tác: làm chung và chia sản phẩm theo công điểm lao động.
Mô hình sản xuất này đã xoá bỏ được sự phân chia cố hữu giữa các loại gia đình địa chủ phú nông trung nông hay bần cố nông. Trên nguyên tắc tất cả các xã viên sống giống nhau nhưng thực tế lại nẩy sinh sự khác biệt sâu xa giữa cán bộ và xã viên. So với trước điều kiện sống của các gia đình xã viên khá hơn gia đình bần cố nông nhưng vẫn chưa bằng gia đình trung nông ngày xưa mặc dù làm ăn tất bật ít thoải mái và thiếu ấm cúng hơn. Môi trường mới tạo điều kiện để phát triển gia đình hạt nhân nhưng thanh niên thoát li đi bộ đội làm công nhân làm cán bộ. đi học... chưa đủ khả năng để sống tự lập nên trên thực tế vẫn phổ biến gia đình nhiều thế hệ. "Những đứa trẻ phần lớn vắng mặt cha mẹ ở với ông bà cũng được thả rông phó mặc cho xã hội. Khi lớn lên chúng đã chán cuộc sống nông thôn nếu không thoát li được thì ngả sang buôn bán để được đi đây đi đó từ đó đâm ra đua đòi sống bừa bãi làm ăn phi pháp... Việc làm suy yếu gia đình và kinh tế gia đình việc ào ạt đưa thanh niên vào biên chế làm việc nhà nước đã làm cho nông thôn xơ xác tiêu điều. Và hơn thế nữa đã làm cơ sở xã hội rệu rã mất ổn định làm phát sinh nhiều tiêu cực trong đời sống ở cả nông thôn lẫn ở thành thị".
Về mặt tổ chức " chính quyền và hợp tác quản lí hộ khẩu. quản lí lao động không để làm ăn riêng lẻ và chạy ngoài. Việc đi lại khỏi làng: nhập ngũ đi học nghề làm công nhân hay viên chức phụ thuộc khá nhiều vào ý kiến nhận xét của xã. Người nông dân gắn chặt với xã đóng kín chỉ có môi trường xã hội ở xã khó năng động linh hoạt trong việc kiếm sống và cũng trở lại tìm chỗ dựa ở quan hệ họ hàng". Vô hình trung đã nẩy sinh một thứ "luỹ tre làng mới" với "hương ước" và "tập tục" riêng nhưng tựu trung vẫn trói buộc con người một cách khắt khe và nghiệt ngã như hay nhiều khi còn hơn "luỹ tre làng cũ".

b)- Gia đình cán bộ: Đây là gia điình của những viên chức làm công tác Nhà nước Đảng hay Đoàn thể và sống bằng lương tháng. Vì chế độ lương bổng thấp và bình quân nên đời sống của công nhân công chức sĩ quan trí thức ít cách biệt nhau và tất cả đều chật vật. Gia đình cán bộ chủ yếu tập trung ở đô thị nhưng vì đồng lương thấp nên phải làm thêm: nuôi lợn nuôi gà may vá nhận làm đồ gia công. Xuất hiện một thứ gia đình nửa quê nửa tỉnh.
Vì hậu quả khốc hại của chiến tranh do những khuyến khiếm của chế độ bao cấp nhất là do chủ trương xây dựng nhà nước đoàn thể mà coi nhẹ gia đình nên gia đình rệu rã lộn xộn chưa có nề nếp mới chưa thành tổ ấm. "Ở thành phố có rất nhiều vợ chồng là cán bộ ăn lương tháng còn con cái được phụ cấp ăn theo cả gia đình dựa dẫm trông đợi nền kinh tế bao cấp của nhà nước. Công việc gia đình thành việc phụ làm tranh thủ làm cho nhanh để còn nghỉ ngơi còn đi làm (...). Gia đình thành một thứ nhà tập thể tạm trú lỏng lẻo. Chịu hậu quả nặng nề của tình trạng lỏng lẻo đó là trẻ con. Phần thì do cha mẹ đều bận việc xã hội về đến nhà đã mệt phờ pjần thì do quan niệm tôn trọng tự do hạnh phúc "cho con được sướng hơn mình" nhiều gia đình thả lỏng chiều chuộng bỏ mặc con cái cho nhà trường và đoàn thể. Bố mẹ đi làm người thì nhốt con lại người thì đuổi con đi chơi để khoá cửa. Cả hai cách đều đẩy trẻ con đến chỗ ghét gia đình thích la cà lang thang ngoài đường phố mà đường phố thì có nhiều cái lôi kéo trẻ con vào con đường hư hỏng".
Đứng trên phương diện ý thức hệ mô hình "người cán bộ cách mạng" xuất hiện và trở thành mẫu người lí tưởng thay thế cho mô hình nhân cách "người quân tử" của Nho giáo và mô hình "người trí thức tự do" dưới thời Pháp thuộc. Qua vận động quần chúng giành chính quyền lập chính quyền cách mạng kháng chiến xây dựng chủ nghĩa xã hội mô hình người cán bộ cách mạng hoàn chỉnh dần. Mô hình đó phủ định những mô hình có từ trước và cụ thể hoá trong quan niệm về người đảng viên anh bộ đội Cụ Hồ người phụ nữ mới ... Phải nói rằng những nhân vật đó không khác nhau nhiều mà chỉ là hình thức cụ thể của "người cán bộ cách mạng".
Đức tính căn bản của người cán bộ cách mạng là tính giai cấp đấu tranh chống áp bức bóc lột căm thù đế quốc thực dân loại trừ phong kiến tuyệt đối tin tưởng ở Đảng và có tinh thần cách mạng. Các giá trị đạo đức và các đức tính nhân bản bị giảm giá hay đặt xuống hàng thứ yếu. Cũng chẳng còn chủ ý rèn luyện tinh thần trách nhiệm khát vọng dân chủ tính tự lập lòng tự trọng và tôn trọng kẻ khác. Kết quả là người cán bộ cách mạng trở thành con người "đơn nhất đồng loạt lấy cái bất biến là yêu nước giác ngộ cách mạng ham lao động có văn hoá sẵn sàng phục tùng sự sắp xếp của tổ chức để ứng vạn biến".
Nhiều người lấy làm tiếc là đáng lẽ ra phải dồn tất cả năng lực để hiện đại hoá nông thôn và cải tạo con người tiểu kỉ thì dưới thời bao cấp người ta lại nông thôn hoá đô thị và đề cao quá đáng tính cách của con người nông dân tiểu kỉ như cam phận hèn mọn tính toán ích kỉ sự phục tùng tuyệt đối thái độ khôn ngoan vụn vặt. Hậu quả của nó là đã tái sinh nhiều mê tín dị đoan cũ và dẫn đến một thứ chủ nghĩa xã hội của nông dân công xã. "Nếu chủ nghĩa xã hội hiểu là sở hữu công cộng với chính quyền chuyên chính vô sản chỉ huy cả kinh tế sắp xếp cả công việc làm ăn cho từng người lo chuyện tương cà mắm muối và xây dựng bằng cách xác lập quan hệ sản xuất đã dẫn đến quan liêu bao cấp đến trói buộc cả xã hội thì làng- họ với nền sản xuất nông nghiệp tự túc và cống nạp với tính cộng đồng tính đóng kín của nó cũng dẫn đến cách hiểu chủ nghĩa xã hội "trại lính" với bệnh viện địa phương nạn phe phái tệ cường hào".
Dưới cái nhìn của nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh những cái gì đang trở thành nhược điểm của người Việt Nam hiện nay chủ yếu được hình thành trong thế kỉ 20 này. "Ở miền Bắc hình thành cơ chế quan liêu bao cấp- không có cơ chế đó chúng ta không thắng Mĩ được. Nhưng bao cấp nhất là bao cấp kéo dài sau năm 1975 làm nẩy sinh hai đứa con tệ hại là thói đạo đức giả và thói vô trách nhiệm".
Chủ nghĩa xã hội đã đưa ra những ý tưởng cao vời nhằm đạt tới sự giải phóng con người khỏi mọi hình thức áp bức và vong thân tạo điều kiện để mỗi người thực hiện chính mình. Theo lí thuyết đây là một tiến trình cách mạng và phát triển kinh tế- xã hội ở mức cao. Vì thế khó lòng thực hiện được mô hình lí tưởng này ở những nơi người dân còn nghèo về tri thức và vật chất như nước ta trước đây. Tuy nhiên do sức ép của chế độ và thái độ duy ý chí người ta đã gồng mình đốt giai đoạn và nhất quyết thi đua đạt thành tích.
Trên thực tế xã hội chủ nghĩa đó mang tính cách "hữu danh vô thực". Thời đó khi ở nơi công cộng hầu như mọi người phải làm ra vẻ mình là người tiến bộ phải lặp lại như vẹt tính ưu việt của lí tưởng xã hội chủ nghĩa và xác quyết tính khả thi của nó nhưng trong chốn riêng tư lại nghĩ khác hẳn. Có một khoảng cách sâu thẳm giữa thực tại và khẩu hiệu giữa việc làm và lời nói giữa con người thật và con người xuất hiện trước đám đông. Hố phân cách thê thảm này nhiều khi chỉ được lấp đầy bằng những lời tuyên ngôn đẹp đẽ khẩu hiệu choáng ngợp và những lời nói dối hoa mĩ. Báo "Ong Đất của Bungari đã diễn tả giai đoạn đặc biệt này một cách sâu sác và hóm hỉnh qua sáu nghịch lí điển hình sau đây:
- Ai cũng có việc làm nhưng không ai làm việc
- Ai cũng không làm việc nhưng ai cũng có lương
- Ai cũng có lương nhưng không ai sống đủ
- Ai cũng không sống đủ nhưng ai cũng sống
- Ai cũng sống. nhưng không ai hài lòng
- Ai cũng không hài lòng nhưng ai cũng giơ tay "đồng ý".
Vì quá đề cao xã hội tính và tập thể tính của con người đến độ lãng quên hay tệ hơn nữa phủ nhận nét độc đáo của mỗi nhân vị chế độ bao cấp đã đi đến chỗ đoàn ngũ hoá và đoàn ngũ hoá con người bằng các đoàn thể phong trào những cuộc thi đua bình bầu xếp hạng khen thưởng đạt thành tích... ba giảm bốn quyết tâm năm thi đua v. v... Mô hình này đã đúc khuôn và nhào nặn nên nhiều "chiến sĩ thi đua" nhiều "anh hùng lao động"... đáp ứng cho đòi hỏi của phong trào thi đua tập thể. Họ được dựng lên từ những phong trào thi đua và chỉ tìm được niềm hăng say phấn khởi trong bầu không khí thi đua chạy theo thành tích chạy theo đám đông và tìm cách khẳng định mình bằng những thành tích được khen thưởng.
Môi trường này ít tạo nên những con người có nội lực có bản lãnh và tìm cách khẳng định mình bằng những giá trị đạo đức: sống chân thành với lương tâm không chấp nhận tính đoàn lũ không nịnh bợ luồn cúi... Đây là những con người có nội lực biết tìm thấy niềm tự hào khi thể hiện được giá trị nhân sinh trong đời thường hay cố gắng liêm chính vì lí tưởng đạo đức chứ không vì chạy theo thành tích. Cố gắng trở nên tốt trong hành vi tốt và cái tốt này gắn liền với chính bản chất con người chứ không phải để đạt thành tích thi đua.
Ngay từ thập niên 60 một vài thức giả đã cảm nhận được sự bế tắc của mô hình này. Nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi là một ví dụ. Nhân dịp kỉ niệm 10 năm từ trần của Từ Chi nhà nghiên cứu Huệ Chi đã kể lại một nhận định sắc bén của người anh họ mà gần như chưa ai đề cập đến: "Ông (Nguyễn Từ Chi) là một người sớm nhạy cảm với những bế tắc của con đường nghiên cứu khoa học xã hội chính thống ở Việt Nam. Sự nhạy cảm này bắt nguồn từ một năng khiếu cũng khá đặc biệt ấy là nhận thức tỉnh táo của ông về mọi chuyển động âm thầm của thời cuộc hay đúng hơn là một nhãn quan minh mẫn về chính trị. Kể từ năm 1963 sau hai năm làm chuyên gia giáo dục và mải mê điền dã dân tộc học ở Guinée và một số nước trên hai bờ con sông Niger của châu Phi trên đường trở về ghé qua Moskova khoảng một tuần lễ khi gặp lại người thân ông đã có một nhận xét khiến nhiều người trong gia đình sửng sốt: "Mô hình xã hội chủ nghĩa xem ra không ổn rồi vì nó sans humanifé (không người).

(Entry sau: Phần cuối THỜI TRANH TỐI TRANH SÁNG)

More...