Nữ Sĩ Huyền Thoại Của Thơ Ca Mỹ

By NGUYỄN THÁI THANH

Emily Elizabeth Dickinson (1830- 1886) sinh ra ở Amherst Massachusetts trở thành một nữ sĩ bí ẩn của thể kỷ 19 với biệt danh " Huyền Thoại" (Myth) được coi là một trong số rất ít các nhà thơ lớn của Mỹ và có ảnh hưởng đáng kể đến thơ ca hiện đại. 

Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Emily gần 1.800 bài thơ ở giữa lưng chừng thế kỷ 19 nhưng thơ của Emily lại thuộc vào thế kỷ 20 bởi vì đến khoảng năm 1955 nó mới được ấn hành hầu như toàn bộ. Sinh thời Emily chỉ cho in có 7 bài thơ của mình.

Những bài thơ của Emily đều ở dạng lời ngắn gọn cô đọng tinh tế  không xa hoa  giầu vẻ đẹp thiên nhiên kinh nghiệm về tình yêu và mất mát...  
 
 dickinson.jpg  175 KB 
  Emily Elizabeth Dickinson   
Người ta còn gọi Emily là "Ẩn sĩ ở Amherst" hay có khi là "Người đẹp ở Amherst" vì suốt cả tuổi đôi mươi  Emily  đã sống ẩn mình trong ngôi nhà ở Amherst hầu như không làm gì hết ngoài làm thơ.

Bạn bè  nhận xét về Emily: "không đẹp nhưng có vẻ đẹp tuyệt vời" còn Emily tự họa chân dung mình: "Tôi không có ảnh. Tôi bé nhỏ tựa như chim chích. Tóc tôi sẫm tối màu hạt dẻ. Và đôi mắt tôi thì giống giọt rượi sherry còn sót lại trong đáy cốc của khách".

Emily tin rằng:
Thiên đàng ai không tìm thấy
Dưới thế gian này
Sẽ không tìm được ở trên cao


Những đứa trẻ thường chờ dưới cửa sổ nhà Emily để Emily thả xuống cho chúng những bánh kẹo đựng trong một chiếc giỏ xinh xắn.

Coi là một lập dị của người dân địa phương  Emily đã trở thành nổi tiếng với sở thích của mình cho quần áo màu trắng và rất miễn cưỡng chào đón khách hoặc đi ra ngoài. Emily rất ít bạn bè và người quen. Những người bạn lâu năm cũng hiếm khi được nhìn thấy Emily.

Emily không bao giờ kết hôn với bất cứ ai nhưng đã rơi vào tình yêu với một ai đó.

Giữa những người ít ỏi mà Emily giao lưu thâm tình là Mục sư Charles Wadsworth mà cô gọi là "người bạn thân yêu nhất trần gian" đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc sống và thơ của Emily nhưng rồi cũng chia xa trong cay đắng. Emily viết: " Tôi mang một nỗi kinh hoàng không biết ngỏ cùng ai và thế là tôi ca hát như đứa bé hát ca ngoài bãi tha ma..."

Còn có một tình bạn đặc biệt và là rất quan trọng với Emily khi Emily ở vào độ tuổi chưa đầy 20 và bắt đầu viết thơ: Benjamin Franklin Newton một nhân viên trẻ trong văn phòng luật sư của cha Emily đã giúp hướng dẫn Emily trong sự phát triển sáng tác và cũng là người đầu tiên nhận ra tài năng của Emily. Ngay cả sau khi Benjamin kết hôn và chuyển đi khỏi Amherst  tình bạn giữa Emily và Benjamin cũng vẫn được duy trì qua những thư từ trao đổi.

Emily sống cùng thời với nhà thơ vĩ đại Whitman nhưng cả hai không biết gì về nhau dù cả hai đều trở thành hai dòng chảy mãnh liệt nhất của thơ ca Mỹ. Emily và Whitman đồng hành mà tách biệt đối lập về thi học cũng như phong cách nhân cách...

Có người gọi Emily là "Đóa hoa toàn bích nhất của tư tưởng siêu nghiệm New England".

Thơ Emily phản ảnh sự cô đơn và tâm trạng thiếu thốn tình cảm nhưng cũng ghi nhận những khoảnh khắc đầy cảm hứng chứa chan sức sống và hứa hẹn một tương lai hạnh phúc. Emily chịu ảnh hưởng rõ rệt từ những nhà thơ Siêu hình của Anh quốc thế kỷ 17 cùng với ảnh hưởng của Thanh giáo New England và Sách Khải Huyền (trong Kinh Thánh).

Từ khung cửa nhỏ hẹp ở Amherst cái nhìn của Emily chiếu lên thế giới nội tâm một ánh sáng diệu kỳ khiến cho con ong chiếc lá ngọn núi giọt sương cái chết sự bất tử niềm tin... như quần tụ lại như "gia đình hóa" và mở ra một cửa sổ thần tiên.

Emily không chú ý gì đến danh vọng thích làm một người "không là ai" chỉ viết thơ như thể cho riêng mình. Gần 1800 bài thơ của Emily (ngoại trừ 7 bài thơ Emily cho in lúc sinh thời) ẩn dật hàng thế kỷ như chính cuộc đời huyền thoại đầy bí ẩn của người nữ sĩ để rồi đột nhiên tỏa sáng rực rỡ trên bầu trời thi ca Mỹ thế kỷ 20.

         HP tháng 8/2010 ntt


  
  

      Thơ Emily Elizabeth Dickinson  
                    Nhật Chiêu
chuyển ngữ


       KHÓC

       Khóc chỉ là chuyện nhỏ
       Thở dài là cái thoáng qua
       Nhưng đi hết những chiều kích ấy
       Gái trai sẽ chết thôi mà



       KHÔNG AI

       Tôi là không ai cả!
       Còn anh anh là ai?
       Anh cũng là không ai chứ?
       Chúng ta thành đôi
       Và cùng nhau sánh bước
       Trong cuộc lưu đầy

       Đáng sợ phải là ai đó
       Phơi mặt giữa đời
       Như là chú ếch xưng tên tuổi
       Trước một ao đầm bái phục ngươi!



       TÔI SẼ MANG ĐẾN ĐẤY

       Khi đến với người tôi sẽ
       Không mang theo bản thân mình
       Nhỏ nhoi gánh hàng ấy
       Mang đến cũng bằng không

       Tôi sẽ mang đến đấy
       Diệu kỳ một trái tim
       Mà tôi không đủ sức
       Mang chứa ở trong mình

       Trong tôi từng ấp ủ
       Trái tim ấy mênh mông
       Và tim tôi từ đó
       Cũng lớn lên không ngừng

       Tim tôi càng lớn rộng
       Người trở lên lạ lùng
       Trái tim này bát ngát
       Người làm sao bao dung? 



       NGÔI NHÀ CỦA HOA HỒNG

       Xin anh đừng đến gần quá
       Ngôi nhà của đóa hoa hồng
       Bạo tàn cơn gió nhẹ
       Lũ lụt giọt sương con
       Xô tường nhà nghiêng ngả
       Xin anh đừng đến quá gần

       Cánh bướm xin đừng buộc lại
       Mê cuồng xin chớ leo song
       Và trong nỗi mong manh ấy
       Là nơi vui mãi đọng nguồn
 
  
 

   KHÔNG BAO GIỜ AI HIỂU

   Chúng ta học tất cả
   Mọi điều về tình yêu
   Những vần và những chữ
   Không thiếu một chương nào
   Học đến toàn bộ sách
   Kết thúc luôn nhiệm màu!

   Nhưng sao trong ánh mắt
   Vẫn dại hơn bao giờ
   Nỗi dại khờ huyền bí
   Còn hơn cả trẻ thơ

   Ai cũng là đứa bé
   Cố nói lên những điều
   Không bao giờ ai hiểu
   Trong cuộc tìm ra nhau

   Cái biết kia bát ngát
   Sự thật ôi muôn màu!



   KHI TRÍ NHỚ
   KHÔNG CÒN CỘI RỄ

   Khi trí nhớ không còn cội rễ
   Không làm sao bắt nó lên xanh
   Chung quanh đất dù nện kỹ
   Và đem dựng thẳng cây cành

   Có thể anh lừa vũ trụ
   Hồi sinh cây trái đừng hòng
   Ký ức như chân tùng bách
   Âm thầm mang đế kim cương

   Khi trí nhớ một lần đã mọc
   Không làm sao đốn hạ đời cây
   Vẫn vươn lên chồi thép mới
   Cây ngã còn ra lộc đầy.



   MỖI CON CHIM

   Mỗi con chim
   Chúa đều cho ổ bánh
   Còn tôi vụn bánh rơi
   Mà tôi đâu dám nếm
   Dẫu đói lòng Chúa ơi!

   Tôi xa hoa đau xót
   Xem mình như chủ nhân
   Có vụn bánh thừa như có một kỳ công!

   Tôi xiết bao hạnh phúc
   Vì đã được chia phần
   Của loài chim sẻ
   Nào dám ước mong hơn...
 
  

  
  

More...

Tản Mạn Thơ Đường Luật

By NGUYỄN THÁI THANH

Đường luật là thể thơ xuất hiện từ đời nhà Đường Trung Quốc. Các nhà Văn học sử thường chia làm bốn giai đoạn là: Sơ Đường Thịnh Đường Trung Đường và Vãn Đường. Nhưng cũng có người chỉ chia làm ba giai đoạn: Sơ Đường Trung Đường và Vãn Đường.
Trước nhà Đường   cũng đã xuất hiện những thiên tài thi ca như Khuất Nguyên (thời Chiến Quốc) Kê Khang Nguyễn Tịch (Triều Ngụy) Đào Uyên Minh (đời Tấn) v. v... Nhưng đó chỉ là những vì sao đơn độc lẻ tẻ. Chỉ đến đời Đường mới xuất hiện một loạt nhà thơ (khoảng hơn hai ngàn) với số lượng thơ hàng chục ngàn bài. Đây là số lượng nhà thơ với với tác phẩm khổng lồ vượt trội so vớ tất cả các thời đại trước và sau nó và là một sự kiện không tiền khoáng hậu. Nó  tạo nên một bầu trời thi ca một dải Ngân hà dầy đặc các vì tinh tú chói lọi: Sầm Than Nguyên Kết Trần Tử Ngang Vi Ứng Vật Hạ Tri Chương Vuơng Xương Linh Thôi Hộ v.v... Nhưng rực sáng hơn cả có Lý Bạch Đỗ Phủ Bạch Cư Dị Thôi Hiệu.
Thời đại nhà Đường kéo dài ngót 300 năm (từ năm 618 đến 907) có những giai đoạn thái bình thịnh trị. Nhưng cũng có những giai đoạn nhiễu nhương ly loạn. Bởi vậy nên thơ Đường ngoài những bài ca ngợi cảnh đẹp thiên nhiên tình bạn tình yêu còn có những nỗi niềm chia ly ai oán những khúc bi thương của thời loạn lạc.
Ngôn ngữ thơ Đường rất cô đọng súc tích. Không ít những bài thơ còn được gắn thên giai thoại. Ví dụ bài "Phong Kiều dạ bạc" của Trương Kế:
                    Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
                    Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
                    Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tụ
                    Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Tản Đà dịch:
                       ĐÊM ĐỖ THUYỀN Ở PHONG KIỀU 
                           Trăng tà tiếng quạ kêu sương
                    Lửa chài cây bến sầu vương giấc Hồ
                           Thuyền ai đậu bến Cô Tô
                    Nửa đêm nghe tiễng chuông chùa Hàn Sơn
Bài thơ này khi Trương Kế mới làm đến câu thứ 3 "Thuyền ai đậu bến Cô Tô" thì phải dừng lại suy nghĩ làm tiếp câu thơ kết còn đang bế tắc. Cùng lúc ấy tại chùa Hàn Sơn cũng có một nhà sư thi sĩ đang thao thức không ngủ suy nghĩ mung lung để tìm lời tìm ý cho một bài thơ. Nhà sư để giải tỏa tâm lý đang căng thẳng liền gióng lên một hồi chuông. Thế là Truơng Kế nhờ có hồi chuông này mà hoàn thành được câu kết: "Nửa đêm nhe tiếng chuông chùa Hàn Sơn".
Lại nữa bài "Hoàng Hạc Lâu" của Thôi Hiệu được Nghiêm Vũ đời Tống ca ngợi là bài thơ hay nhất đời Đường:
                    Tích nhân dĩ thừa Hoàng Hạc Khứ
                    Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu
                    Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản
                    Bạch Vân thiên tải không du du
                    Tình xuyên lịch lịch Hán dưong thụ
                    Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
                    Nhật mộ hương quan hà xứ thị
                    Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
Tản Đà dịch:
                              LẦU HOÀNG HẠC 
                           Hạc vàng ai cỡi đi đâu
                    Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
                           Hạc vàng đi mất từ xưa
                    Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
                           Hán Dương sông tạnh cây bầy
                    Bãi xa Anh Vũ xanh dầy cỏ non
                           Quê hương khuất bóng hoàng hôn
                    Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai
Tương truyền khi Lý Bạch được người đời ca tụng là thi tiên ông liền viết 2 câu thơ: Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu  (Trước mắt có cảnh đẹp mà không nói được thành lời vì đã có thơ của Thôi Hiệu để ở trên đầu).
Một nhà thơ khác là Vuơng Duy. Ông rất có tài trong việc tả cảnh tả tình. Ông còn là một họa sĩ. Bởi thế nhà thơ Tô Đông Pha đời Tống đã ca ngợi Vuơng Duy: Thi trung hữu họa họa trung hữu thi (Trong thơ có họa trong họa có thơ).
Chuyện nhà sư thi sĩ Giả Đảo làm thơ cũng là một bài học về tính dụng công chuyên cẩn tỉ mỉ trong việc tìm lời tìm ý. Tương tryền trong một bài thơ ngũ ngôn của ông mở đầu bằng 2 câu:
Điểu túc trì biên thụ
(Chim ngủ trên cành cây bờ ao)
Tăng sao nguyệt hạ môn
(Nhà sự gõ cửa dưới trăng)
Lúc đầu ông không dùng chữ "sao" (gõ) mà định dùng chữ "thôi" (đẩy). Trong lúc đang phân vân chưa biết chọn chữ nào ông liền cỡi ngựa đui lang thang vừa đi vừa giơ tay lên trời làm điệu bộ vừa gõ vừa đẩy. Ông đi lạc vào doanh quân của Hàn Dũ lúc ấy là huyện lệnh Duơng Sơn. Giả Đảo bị bắt vì bị tưởng là người điên. Sau khi biết chuyện Hàn Dũ khuyên dùng chữ "sao" hơn là dùng chữ "thôi" vì chữ "thôi" (đẩy) chỉ là chữ tượng hình còn chữ "sao" (gõ) vừa tượng hình vừa tượng thanh nó gợi cho ta âm thanh "lộc cộc" của tiếng gõ cửa. Từ đó "thôi sao" trở thành điển tích để chỉ sự khó nhọc của người làm thơ.
Cảm thụ thơ Đường từ nguyên bản không hề đơn giản. Không phải hễ có một vốn chữ Hán nhất định là đọc và hiểu được thơ Đường. Chẳng hạn như câu "Tây lục thiền thanh xướng" mà chỉ hiểu "Tây lục" là vùng đất phía Tây thì sai vì tác giả của nó là Lạc Tân Vuơng đã lấy ý câu: "Nhật hành tây lục vị chi thu" cho nên câu thơ trên được Tương Như dịch là: "Thu đến ve kêu tiếng". Ở đây "tây lục" có nghĩa là mùa thu.
Các điển tích trong thơ Đường rải rác bài nào cũng có. Trong mỗi bài đều nói lên tên núi tên sông các nhân vật và dữ kiện lịch sử. Bởi vậy người đọc cũng cần có một số kiến thức căn bản về văn học lịch sử địa lý của Trung Quốc mới có thể lĩnh hội được cái hay cái đẹp của thơ Đường.
Xin lướt qua các thể loại thơ Đường luật. Trước thơ Đường là thơ Cổ Phong túc là loại thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn chỉ cần vần chứ không cần theo luật bằng trắc. Câu thơ có thể dài (trường thiên) hoặc ngắn (đoản thiên). Số câu trong thơ Cổ Phong cũng không quy định cụ thể. Đó là loại thơ khá tự do.
Đến đời Đường thơ luật ra đời bắt buộc người làm thơ phải tuân thủ. Thơ Bát cú (tám câu) dù là Ngũ ngôn (năm chữ) hay Thất ngôn (bẩy chữ) đều có bố cục: câu đầu là phá đề câu 2 là thừa đề hai câu 3 và 4 là câu thực câu 5 và 6 là câu luận và 2 câu cuối cùng 7 và 8 là câu kết.
Thơ Thất ngôn có hai loại: Bát cú và Tứ tuyệt. Tứ tuyệt là thể thơ 4 câu. Bát cú giống Tứ tuyệt ở chỗ đều có "niêm" nhưng Bát cú ở 2 cặp "thực" (câu 3 và câu 4) và "luận" (câu 5 và câu 6) phải đối nhau từng cặp danh từ đối với danh từ động từ đối với động từ   tính từ đối với tính từ trạng tự đối với trạng từ v. v... Chính cái tính chất "đối" này đã làm nên sự độc đáo của thể thơ thất ngôn bát cú. "Niêm" nghĩa chữ Hán là dính. Tức là nó có nhiệm vụ dính kết các câu thơ với nhau một cách chặt chẽ. Niêm được quy định như sau: Nếu câu thứ nhất có chữ thứ hai là vần bằng thì đương nhiên chữ thứ sáu cũng vần bằng và "kẹp" chữ thứ tư ở giữa là vần trắc. Tiếp câu thứ hai thì chữ thứ hai phải là vần trắc và đương nhiên chữ thứ sáu cũng vần trắc "kẹp" chữ thứ tư là vần bằng.
Ví dụ bài "Tây Tái sơn hoài cổ" của Lưu Vũ Tích:
                    Vương Tuấn lâu thuyền há Ích Châu
                    Kim Lăng vương khí ảm nhiên thâu
                    Thiên tầm thiết tỏa trầm giang để
                    Nhất phiếm hàng phan xuất thạch đầu
                    Nhân thế kỷ hồi thương vãng sự
                    Song hình y cựu chẩm hàn lưu
                    Tổng kim tứ hải vi do nhật
                    Cổ lũy tiêu tiêu lô địch thu.
Ngô Văn Phú dịch:
                    Thuyền lầu Vuơng Tuấn xuống Châu Ích
                    Vuơng khí Kim Lăng ủ một trời
                    Xích sắt nghìn tầm chìm đáy nước
                    Cờ hàng một lá thạch đầu phơi
                    Người đời chuyện cũ bao lần xót
                    Sông lạnh kề bên núi vẫn ngồi
                    Bốn biển một nhà chinh chiến lặng
                    Quạnh hiu lũy cũ sậy lau đầy.
Người làm thơ Đường còn có một thú chơi đặc biệt là họa thơ. Họa trong tiếng Hán còn có một âm nữa đọc là hòa. Họa thơ tức là từ một bài thơ đầu (bài xướng) để làm một bài thơ khác dựa vào nội dung ý tứ của bài trước nhưng phải lặp lại tất cả các chữ cuối cùng có vần bằng theo thứ tự như bài xướng. Bài xướng và bài họa thường là cùng một chủ đề nhưng cũng có thể khác chủ đề. Đã có không ít những cặp xướng họa nổi tiếng như các cặp: Phan Văn Trị với Tôn Thọ Tường Hồ Xuân Hương với Chiêu Hổ v. v...
Đây là một cặp xướng họa khác: Hàn Mặc Tử và Mộng Châu. Bài xướng của Mộng Châu bài họa của Hàn Mặc Tử (Khi ấy Hàn Mặc Tử mới 15 tuổi).
Bài xướng của Mộng Châu:
                    Nhạn ơi tung cánh giữa vườn mây
                    Khéo léo đừng rơi gói buộc dây
                    Cái gánh tình si ai gửi đó
                    Là lời tâm sự nhạn đưa ngay
                    Đưa người tháng trước hòa thơ tiễn
                    Đến bến ngày xưa mấy tiệc bày
                    Hỏi nhớ cùng không người bốn mắt?
                    Bể dâu chưa thấy thấy gì đây?
Bài họa của Hàn Mặc Tử
                    Vội vàng chi lắm nhạn lưng mây
                    Chầm chậm cho mình giữ mối dây
                    Về đến Thần Kinh khoan nghỉ đã
                    Ghé miền Gia Hội tỏ tình ngay
                    Suốt năm canh mộng hồn mê mỏi
                    Chỉ một lòng son muốn giãi bày
                    Này nhạn! ta còn quên chút nữa
                    Con tim non nớt tặng nàng đây.
Không có bất cứ một thể thơ nào có thể xướng họa được như thơ Đường luật. Đó là một nét độc đáo và đặc sắc.
Và có thể nói mà không sợ ngoa ngôn rằng mỗi bài thơ Đường là một viên ngọc quý trong kho tàng thi ca của nhân loại.

Tháng 5/2009

   
  

More...

Hãy Trả Lại Thơ Cho Bàng Bá Lân

By NGUYỄN THÁI THANH

Vào khoảng năm 1972 một anh bạn rủ tôi đến thăm nhà thơ Bàng Bá Lân ở một cái hẻm lớn trên đường Công Lý Sài Gòn. Lúc chúng tôi đến ông cũng vừa thức dậy sau giờ nghỉ trưa. Hôm ấy là chủ nhật ông không phải lên lớp. Hồi ấy ông dạy ở Đại học Văn khoa Sài Gòn. Thực ra trước khi gặp ông tôi cũng đã biết đến ông một nhà thơ Tiền chiến quê Bắc Giang người đồng hương với tôi.

  


 
 
Ông có vóc người trung bình nhanh nhẹn trang phục bình dân giản dị. Ông nói chuyện với chúng tôi về thời sự kinh tế rồi văn học văn chương truyền miệng thơ v. v... Ông thuộc rất nhiều thơ. Ông có giọng đọc thơ rất hay. Ông đọc từ thơ của những nhà thơ Tiền chiến cho đến thơ Đường thơ Pháp. Nghe ông đọc thơ chúng tôi như bị thôi miên. Chờ khi ông ngừng nghỉ một lát tôi mới nói chen vào. Tôi nói rằng trong ca dao Việt Nam tôi rất thích hai câu:

Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi
      

Tức thì nhà thơ vội ngắt lời tôi. Ông bảo hai câu thơ đó là trích trong một bài thơ lục bát gồm 12 câu của ông. Rồi ông đọc liền một mạch cả bài thơ đó. Nhưng ông sửa lại câu 8 mà tôi vừa dẫn trên là:

Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi

Và ông giải thích như sau: Người ta không thể múc ánh trăng vàng được mà là múc trăng vàng ở dưới nước. Khi cái gầu của cô gái dìm xuống nước thì mặt trăng tan vỡ ra trong nước hòa với nước sóng sánh cùng với nước. Thế là cô gái múc nước tát lên ruộng cao cũng đồng thời múc luôn cả vầng trăng tan vỡ trong đó. Trường hợp này cũng tương tự như trong bài thơ Nhớ Rừng của Thế Lữ. Bài thơ có câu: Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan. Ở đây con hổ không hề đứng ngửa mặt lên trời để uống ánh trăng trong không khí mà là uống ánh trăng tan trong dòng suối sau khi đã
say mồi.

Nghe nhà thơ giảng nghĩa như vậy chúng tôi từ chỗ ngỡ ngàng đến khâm phục. Chúng tôi hoàn toàn tin:

- Một là hai câu thơ trên là của nhà thơ Bắc Giang: Bàng Bá Lân.

- Hai là nguyên văn của nó chắc chắn là: Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi chứ không phải
Múc ánh trăng vàng đổ đi.

Mãi về sau này cũng có một vài người lên tiếng công nhận hai câu ca dao trên là của Bàng Bá Lân trong đó có Giáo sư Huyền Viêm có bài đăng trên Kiến Thức Ngày Nay. Tuy nhiên chưa có ai chỉ rõ sự khác nhau giữa Múc ánh trăng vàngLại múc trăng vàng như chúng tôi vừa nêu trên. Theo thiển nghĩ của chúng tôi sở dĩ có sự lầm lẫn trên là do tam sao thất bản. Rằng quyển Ca dao tục ngữ Việt Nam của tác giả Vũ Ngọc Phan có in hai câu ca dao trên được xuất bản năm 1955 ở miền Bắc còn tác giả của nó tức nhà thơ Bàng Bá Lân lại di cư vào Nam từ năm 1954. Vì thế nhà thơ không được đọc quyển sách biên khảo của Vũ Ngọc Phan không thấy sự lầm lẫn đáng tiếc kể trên để lên tiếng cải chính.

Từ đó đến nay đã 35 năm tôi chưa hề được gặp lại nhà thơ Bàng Bá Lân. Thỉnh thoảng gặp một vài người bạn cố tri có lòng yêu mến văn chương tôi lại đem tâm sự trên kể cho họ nghe. Suốt thời gian dài ấy tôi cứ lòng dặn lòng bất cứ khi nào có dịp là tôi sẽ đưa niềm tâm sự đó lên mặt báo. Rằng chưa làm được điều này thì tôi còn day dứt chưa yên. Rằng món nợ tinh thần với nhà thơ đồng hương vẫn chưa trả được.

Hoàng Chí Quang
(Số ĐT: 0986 706 489)

More...