Một Sự Khởi Đầu

By NGUYỄN THÁI THANH

Trái đất của chúng ta được đặt trên một quỹ đạo thích đáng.

Trái đất cách xa mặt trời khoảng 91 triệu dặm (khoảng 146 triệu km). Nếu trái đất cách xa mặt trời giả sử 120 triệu dặm (192 triệu km) mọi vật sẽ bị đông lạnh. Ngược lại nếu đem nó đến gần mặt trời khoảng 60 triệu dặm (96 triệu km) thì mọi vật sẽ bị đốt cháy.


Nếu mặt trời nóng gấp đôi thì sẽ nướng hết mọi vật trên đất. Ngược lại nếu nó chỉ nóng bằng phân nửa sức nóng hiện tại mọi vật sẽ bị đông đá.


Trái đất xoay chung quanh nó khoảng 1000 dặm một giờ tính tại đường xích đạo. Nếu tốc độ đó giảm xuống còn 100 dặm một giờ thì ngày và đêm dài hơn 10 lần tức là một ngày và đêm sẽ có 240 giờ. Ban ngày cây cối sẽ bị đốt cháy hết và ban đêm hạt giống sẽ bị đông lạnh mà chết.


Trái đất nghiêng trên trục Nam- Bắc khoảng 23 5 độ. Nếu không có độ nghiêng này hơi nước bốc lên từ biển sẽ bay đến vùng địa cực và tạo ra những núi tuyết khổng lồ. Chúng ta sẽ không có bốn mùa và khí hậu sẽ không thay đổi. Nếu trái đất nghiêng khoảng 47 độ chúng ta sẽ không chịu được hơi nóng vào mùa hè và mùa đông sẽ vô cùng lạnh lẽo.


Khoảng cách giữa mặt trăng và trái đất là 200 ngàn dặm (khoảng 320 ngàn km). Nếu mặt trăng chỉ cách trái đất khoảng 50 ngàn dặm (80 ngàn km) thì thủy triều dâng lên sẽ ngập lụt cả những dẫy núi cao. Và nếu nước đại dương sâu hơn nước biển sẽ hút hết thán khí (CO2) và dưỡng khí (O2) như vậy cây cối và con người sẽ bị hủy diệt.


Các khoa học gia không hiểu tại sao số lượng của những chất ga trong bầu khí quyển vừa đúng tỷ lệ với nhau để duy trì sự sống trên đất. Bầu khí quyển chúng ta thở mỗi ngày chứa trung bình khoảng 21% chất dưỡng khí. Nếu số lượng dưỡng khí nhiều hơn sẽ ô-xít hóa hết đá sỏi và kim loại nếu ít hơn thì chúng ta sẽ không đủ để thở.


Số lượng chất thán khí trong khí quyển là 0 3% nếu nhiều hơn một chút sẽ làm cho nhiệt độ trong không khí nóng hơn. Ít hơn một chút sẽ làm cho cây cỏ chết dần (cây cối dùng CO2 để tạo ra chất dinh dưỡng qua phương pháp photosynthesis).


Nếu bầu khí quyển mỏng hơn một chút thì hàng triệu vẫn thạch từ không gian rơi vào trái đất sẽ đè bẹp con người trên đất vì những vẫn thạch này không được đốt ra tro trước khi rơi xuống mặt đất.
Làm sao những sự huyền diệu như thế tự nó có thể xẩy ra được? Làm sao trái đất có thể tự nó hiện hữu được? Phải có một Đấng Sáng Tạo. Phải có một sự khởi đầu cho muôn vật mà tất cả những điều kỳ diệu chung quanh chúng ta là bằng chứng của sự sáng tạo đầy quyền phép đó.

Những người tin ở thuyết tiến hóa đả phá ý tưởng vũ trụ được tạo nên bởi Thượng Đế. Họ cho rằng sự hình thành của mọi vật trên thế gian trong vũ trụ chỉ là kết quả của một quá trình diễn tiến. Bắt đầu là những tinh thể gọi là quark kết tụ lại và tăng trưởng biến hóa từ từ thành vật thể. Cũng như con người là một quá trình tiến hóa từ con khỉ mà ra. Họ không tin con người được tạo nên bởi chính bàn tay Thượng Đế và là một tuyệt phẩm do chính Thượng Đế làm ra đểt cai quản muôn loài muôn vật trên thế gian.


Có biết bao điều thuyết tiến hóa không thể giải thích được. Nhưng ở đây xin chỉ nói về những điểm kỳ diệu của con người. Trước hết hãy nói về óc sáng tạo của nhân loại trong cuộc hành trình từ một thời đại ăn lông ở lỗ tiến đến thời đại nguyên tử văn minh vệ tinh văn minh điện toán như ngày hôm nay.


Loài ong mấy ngàn năm vẫn xây tổ theo một kiểu. Loài chim từ thuở khởi đầu vẫn một cách di tản sang xứ khác để tránh mùa lạnh hàng năm. Loài nai qua hàng bao thế hệ vẫn chỉ biết trốn chạy để tránh nguy hiểm. Và loài khỉ qua hàng ngàn năm nữa cũng chỉ biết leo cây hái trái trần truồng bắt chấy rận cho nhau.


Nhân loại thì khác nhân loại tiến triển qua thời gian. Óc sáng tạo giúp con người vượt qua khó khăn trở ngại chinh phục thời tiết chinh phục không gian chinh phục bệnh hoạn chinh phục mọi loài mọi vật chung quanh. Sự sáng tạo không những giúp nhân loại sinh tồn mà còn giúp vào sự tiến hóa giải đáp những ưu tư thắc mắc những tò mò thúc đẩy con người khám phá và tăng trưởng khả năng mình.


Sáng tạo là một sự ban cho của Thượng Đế không tự nó có được và chắc chắn không được lưu truyền từ loài khỉ.


Loài vật trên trời dưới biển trên đất tất cả những loài được xem là thông minh nhất kể cả loài khỉ là giống được người ta cho là thủy tổ của loài người cũng không giống nào có nhu cầu cần thiết thờ phượng ai. Loài vật sống bằng năng lực cảu chính nó hoặc tấn công hoặc chạy trốn để sinh tồn. Loài vật không biết đến sự cầu khẩn thờ phượng vào một quyền năng một Đấng mà nó không hề biết không hề thấy.


Con người không phải như vậy. Hãy đi tìm những tài liệu khảo cổ về loài người từ thời thượng cổ hay là những bộ lạc man rợ còn sót lại ở dọc sông Amazon hay những giống người ở ngoài hoang đảo hay ở tận rừng núi Phi châu. Những con người chưa hề biết đến một nền văn minh nào cả. Những con người còn sinh hoạt như loài thú. Nhưng tất cả họ đều có một nhu cầu thờ phượng giống nhau. Họ thờ một cây cổ thụ một ngọn thác một con suối một miếng gỗ một cái hang. Họ thờ bất cứ cái gì có vẻ không bình thường. Họ sợ hãi kính cẩn gọi những vật đó là Thần của họ. Vị Thần họ tin có thể bảo vệ và cũng có thể huỷ diệt họ.


Chúng ta cho rằng những người này là ngu muội mê tín dị đoan bị các tên phù thuỷ buôn thánh bán thần lợi dụng để thủ lợi. Thế thì chúng ta hãy trở lại một nơi chốn văn minh. Thử tìm ở Pháp thủ đô văn hoá thế giới. Ở Anh mấy ngàn năm văn minh tiến bộ. Ở Hoa Kỳ đệ nhất quốc gia về kỹ thuật khoa học. Đại đa số dân chúng từ mọi tầng lớp trong xã hội đều thờ phượng một Đấng Thượng Đế nào đó. Những người này có phải cũng là những kẻ ngu muội mê tín dị đoan chăng?


Nhà bác học Einstein một kỳ tài toán học đã từng nói "Khám phá vĩ đại nhất của tôi là Thượng Đế."
Thomas Edison người phát minh ra đèn điện và máy hát một bộ óc với hơn 2500 bằng sáng chế cũng đã nói "Thượng Đế đã ban cho tôi tất cả."

Con người! Bất kể ở thời đại nào nơi nào xã hội nào tầng lớp nào cũng đồng chung một nhu cầu tín ngưỡng. Nhu cầu tín ngưỡng nằm trong tiềm thức của nhân loại ấy là ước muốn được thờ phượng Đấng Tạo Hoá Đấng đã tạo dựng lên vũ trụ và tạo dựng lên mình.


Thượng Đế vẫn còn đấy là Đấng vẫn hiện hữu hằng hữu bàng bạc qua khắp các sự vật do Ngài tạo ra là Đấng vẫn ngự trị trên ngôi trời và điều khiển vạn vật bằng quyền phép vô biên vô lượng.


ntt_CB07 by lamhavn.


More...

10 Nhà Thờ Tráng Lệ Nhất Thế Giới

By NGUYỄN THÁI THANH


1. Nhà thờ St Patrick tại Melbourne Australia nổi danh thế giới là tòa nhà tiên phong xây dựng theo phong cách kiến trúc Gothic thời Phục hưng. Được khởi công xây dựng vào năm 1858 nhưng phải đến năm 1939 thánh đường cao nhất xứ sở kangaroo này mới được hoàn tất do trì hoãn nhiều lần về lý do tài chính.


2. Thánh đường "Our Lady of the Pillar" tại Zaragoza Tây Ban Nha được xây dựng trên bờ sông Ebro khoảng thế kỷ 1-2 sau Công nguyên. Kiến trúc nguyên thủy của nó mang phong cách nghệ thuật Barốc còn phần lớn tòa nhà hiện tại đã được xây dựng lại từ năm 1681 đến 1872.


3. Nhà thờ Đức Bà Paris tại thành phố Paris Pháp là thánh đường thuộc quyền cai quản của Đức Giám mục Paris. Xây dựng hoàn tất vào khoảng năm 1345 nhà thờ được xem là một trong những ví dụ tiêu biểu nhất cho phong cách kiến trúc Gothic Pháp và cũng là một trong những công trình đầu tiên sử dụng tường chắn kiểu vòm.


4. "Đền thờ quốc gia Đức Mẹ về trời" tọa lạc tại thành phố Baltimore Mỹ. Xây dựng từ năm 1806 thánh đường Baltimore được thiết kế theo phong cách tân cổ điển kết hợp giữa kiến trúc nhà thờ kiểu Mỹ thời xưa nhưng vẫn giữ những thiết kế truyền thống của các giáo đường lâu đời ở châu Âu.


5. St Mark là nhà thờ nổi tiếng nhất tại thành phố Venice Italy và cũng là một trong những ví dụ điển hình nhất của phong cách kiến trúc thời đế chế Byzantine.


6. Thánh đường Đức Mẹ Dolours tọa lạc tại thành phố Thrissur miền nam Ấn Độ là một trong những nhà thờ cao lớn nhất châu Á. Thánh đường được xây dựng theo phong cách Indo-Gothic với ba tháp lớn trong đó tòa tháp cao nhất lên đến 79 m.


7. Nhà thờ Đức Bà Bảo Vệ được xây theo phong cách Byzantine mới tọa lạc ở địa điểm cao nhất của thành phố Marseille Pháp.


8. Thánh đường Đức Mẹ Licheń nằm trong khu làng Licheń Stary gần thành phố Konin Phần Lan. Với gian giữa giáo đường cao 98 m dài 120 m rộng 77 m và một tòa tháp cao 141 5 m đây là nhà thờ lớn nhất Phần Lan và cũng nằm trong số những nhà thờ lớn nhất thế giới.


9. Thánh đường Las Lajas theo phong cách kiến trúc Gothic thời Phục hưng từ năm 1916-1949 được xây bên trong hẻm núi của con sông Guaitara thuộc thành phố tự trị Ipiales Colombia.


10. Nhà thờ St Peter tại Vatican Rome Italy được xem là công trình mang tính tôn giáo lớn nhất thế giới với sức chứa 60.000 người. Ngôi thánh đường hiện tại được xây dựng lại từ một thánh đường Constantin cổ trong thế kỷ 16 với thiết kế của những nghệ sĩ bậc thầy thời Phục hưng nổi bật nhất trong số đó là nhà điêu khắc kiêm họa sĩ Michelangelo.


Thánh đường thứ 11 chưa hoàn tất mang tên Sagrada Família. Đây là một đền thờ Cơ đốc giáo La Mã do tư nhân xây dựng tại thành phố Barcelona Tây Ban Nha vào năm 1882 và dự tính còn kéo dài ít nhất đến năm 2026 mới hoàn thành. Được xem là một tuyệt tác kiến trúc của kiến trúc sư trứ danh người Catalan Antoni Gaudí Sagrada Família đã trở thành một địa điểm thu hút khách du lịch hàng đầu của Barcelona trong nhiều năm qua.

  
  

More...

Vẻ Đẹp Giới Tính

By NGUYỄN THÁI THANH

Thế nào là vẻ đẹp nam tính? Thế nào là vẻ đẹp nữ tính? Khi hỏi những nam giới từ trung niên trở lên thế nào là vẻ đẹp nữ tính hầu như họ đều trả lời: Là phải nhân hậu thành thực dịu dàng không quá nổi trội và lại phải sáng dạ khéo tay. Trong số họ rất nhiều người cho rằng người phụ nữ là phải phụ thuộc vào đàn ông giỏi chịu đựng mới là người phụ nữ lý tưởng. Khi hỏi những nam thanh niên câu hỏi trên thì họ trả lời: Phải cởi mở dịu dàng sạch sẽ có cá tính. Họ cho rằng những đặc điểm này cũng thích hợp với nam giới vẻ đẹp nam tính hay nữ tính đều không quan trọng điều cốt yếu là vẻ đẹp nhân tính.

Khi hỏi những phụ nữ ở tuổi trung niên trở nên câu hỏi thế nào là vẻ đẹp nam tính? Câu trả lời là: Phải đáng tin cậy kiên cường tráng kiện có dũng khí. Họ cho rằng đàn ông kiểu phụ quyền là người đàn ông lý tưởng.

Khi hỏi những nữ thanh niên thế nào là vẻ đẹp nam tính? Câu trả lời là: Phải cởi mở rộng rãi thành thật kiên cường sạch sẽ. Và họ cũng cho rằng vẻ đẹp nam tính hay nữ tính chẳng qua cũng là vẻ đẹp nhân tính. Có dũng khí cũng có thể trở thành một vẻ đẹp của nữ giới và khi nói sự nhẹ nhàng ôn tồn là một trong những vẻ đẹp nam tính cũng chẳng có gì đáng buồn cười.

Có thể thấy các thế hệ khác nhau có cách nhìn nhận khác nhau về vẻ đẹp của nam giới và nữ giới. Nhưng đặc điểm chung của họ là đều phán đoán từ những khái niệm mơ hồ thông thường đại đa số chỉ chú ý đến vẻ đẹp nam tính nữ tính từ góc độ tính cách mặc dù nhận thức này không thể cho là sai nhưng việc nhận thức về vẻ đẹp nam tính hoặc nữ tính nên có nhiều phương pháp và từ nhiều góc độ.

Trên thực tế chẳng phải chúng ta luôn đánh giá vẻ đẹp nam tính hoặc nữ tính của một người nào đó dựa trên tư thế đứng ngồi cử chỉ lời nói biểu hiện thái độ dáng vẻ dung mạo ăn mặc trang sức v.v... Khi chúng ta đánh giá về vẻ đẹp nam tính trên góc độ tính cách chẳng phải cũng thường bị ảnh hưởng bởi những ấn tượng của các phương diện trên.

Trong cuộc sống hàng ngày khi chúng ta thảo luận về vẻ đẹp nam tính hoặc nữ tính đánh giá một người nào đó bị nam tính hóa hoặc nữ tính hóa cho dù nhận thức của mỗi người thuộc lứa tuổi khác nhau là không giống nhau thì về cơ bản đều lấy dáng vẻ và tính cách làm tiêu chuẩn chính. Chúng ta đều đánh giá phán đoán dựa trên các điều kiện về thể chất như cơ bắp xương cốt tướng mạo ngực tóc râu giọng nói v.v... và các điều kiện về tính cách như: xấu hổ mơ mộng thẹn thùng v.v...

Tuy nhiên nếu nhìn kỹ một chút những điều kiện về thể chất và tinh thần này không phải tất cả đều thể hiện ra các đặc điểm nam tính hoặc nữ tính. Có những phụ nữ nước da đen cơ bắp phát triển ngực phẳng thuộc nhóm phụ nữ "nam tính hóa" nhưng không thể nói rằng về tính cách họ có đủ những yếu tố của nam giới như hướng ngoại ít xấu hổ. Đối với nam giới cũng thế có những người mảnh dẻ yếu đuối nhìn bề ngoài họ thuộc nhóm những người nữ tính hóa nhưng chưa chắc họ đã có tính cách của nữ giới như thẹn thùng xấu hổ. Có thể thấy việc nam tính hóa hay nữ tính hóa về thể chất không phải bao giờ cũng đồng nhất với việc nam tính hóa hay nữ tính hóa trong tính cách.

* Mức độ nữ tính và mức độ nam tính
Xung quanh chúng ta có những phụ nữ có tính cách điển hình cũng có những người mặc dù là phụ nữ nhưng lại có tính cách của nam giới; có những người đàn ông có tính cách thuần túy của nam giới và cũng có những người mặc dù là đàn ông nhưng lại có tính cách của phụ nữ.

Như phần trên đã đề cập tính cách và đặc trưng thân thể không hoàn toàn đồng nhất. Trong tâm lý học người ta dùng từ "mức độ giới tính" để chỉ mức độ hội tụ các yếu tố nữ tính và mức độ hội tụ các yếu tố nam tính. Và gọi mức độ hội tụ của các yếu tố nữ tính là mức độ nữ tính mức độ của các yếu tố nam tính là mức độ nam tính.

Các đặc điểm của nam và nữ thể hiện trên cơ thể rất dễ nhận biết nhưng đặc điểm nam nữ trong tính cách và tinh thần thì như thế nào? Những người trẻ tuổi lại có thể cho rằng các đặc điểm nam nữ về mặt tinh thần cũng chính là đặc điểm của nhân tính. Nhưng những nhà tâm lý học cho rằng:

Đặc điểm của nam tính là lý trí năng động và do thường xuyên dùng lý trí để khống chế tình cảm nên thuộc nhóm kín đáo.

Đặc điểm của nữ tính là sống theo tình cảm bị động và do thường xuyên biểu lộ tình cảm nên thuộc nhóm cởi mở.

Đương nhiên giữa đặc điểm nam tính và nữ tính không có sự phân biệt tốt xấu. Do đó con người về tính cách dù giống nam giới hay giống nữ giới thì về nhân cách cũng không có sự phân biệt tốt xấu.

* Tuổi tác với mức độ giới tính
Vẻ đẹp nam tính và nữ tính có liên quan đến tuổi tác? Nam nữ đều như nhau từ tiểu học trung học đại học cùng với sự tăng lên của tuổi tác (nghĩa là hoàn thiện về thể chất) thì mức độ giới tính ngày càng rõ rệt và lên đến đỉnh điểm khi ở thời kỳ trung học và đại học. Thông thường đỉnh điểm của mức độ giới tính có thể kéo dài đến khoảng 25 tuổi sau đó giảm dần.

Đối với nam giới mức độ nam tính cao nhất là từ thời kỳ trung học phổ thông cho đến thời kỳ từ 25 - 29 tuổi. Sau đó cùng với tuổi tác tăng dần khuynh hướng nam tính giảm dần bắt đầu nữ tính hóa.

Đối với nữ giới thời kỳ mức độ nữ tính cao nhất là từ trước và sau năm thứ hai của trung học cơ sở cho đến giai đoạn trung học phổ thông và đại học. Sau khi bước vào tuổi già đặc điểm nữ tính mất dần bắt đầu nam tính hóa.

Thông thường mức độ giới tính trong thời kỳ học sinh cao hơn so với sau khi bước ra ngoài xã hội điểm này chung cho cả nam và nữ.

* Môi trường với mức độ giới tính
Thông thường người ta cho rằng trong số những tố chất của trẻ em (năng lực tính cách v.v...) các thành phần được hình thành trong môi trường giáo dục thì lớn hơn nhiều so với các thành phần được kế thừa từ cha mẹ trước khi ra đời. Mức độ giới tính vẻ đẹp nam và nữ tính cũng được hình thành dưới ảnh hưởng của môi trường.

Những trẻ em sống trong môi trường gia đình không tốt hoặc bị mồ côi khi so sánh với những trẻ em vẫn còn cha mẹ thì hoặc thiên về nam tính hoặc thiên về nữ tính so với giá trị trung bình. Mức độ giới tính của hầu hết trẻ em mồ côi đều thiên về nữ tính.

Những bé gái chỉ có anh em trai mà không có chị em gái thì mức độ giới tính thiên về nam tính so với giá trị trung bình. Những bé trai mà chỉ có chị em gái mức độ giới tính thiên về nữ tính so với giá trị trung bình. Những trẻ con một do mẹ nuôi đều thiên về nữ tính.

Việc có con hay không có con ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ giới tính của người cha. Người cha có con thì thiên về nữ tính hơn những người không có con. Cùng với sự tăng lên của các thành viên trong gia đình cả cha và mẹ đều ngày càng thiên về nữ tính hóa.

Những điều khác lạ là những người cha có con trai ngày càng nam tính hóa cùng với sự tăng lên của những đứa con trai người mẹ cũng thiên về nam tính hóa. Nếu các con đều là con gái người cha có mức độ nữ tính cao còn người mẹ càng nữ tính hóa. Ngoài ra nếu chỉ có một con trai người mẹ lại thiên về nữ tính.

Những người đàn ông có cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc có khuynh hướng nam tính hơn những người đàn ông đã ly dị. Những phụ nữ đã ly hôn đều có khuynh hướng nam tính hơn những phụ nữ có cuộc sống hôn nhân.

Phần lớn thời gian trong ngày của một đứa trẻ đều tại trường học. Trường học cũng là môi trường rất quan trọng. Điều tra về đối tượng là học sinh trung học phổ thông cho thấy khi so sánh ở những trường có số học sinh nam nữ riêng với các trường có số học sinh cả nam và nữ thì mức độ nam tính của học sinh nam ở những trường nam riêng cao mức độ nữ tính của
học sinh ở trường nữ riêng cao. Nghĩa là những học sinh nam trong trường nam riêng có khuynh hướng nam tính cao hơn học sinh nam trong trường có cả nam và nữ học sinh nữ trong những trường nữ riêng có khuynh hướng nữ tính hơn những học sinh nữ trong trường có cả nam và nữ.

Những trẻ em lớn lên ở thành thị cả nam và nữ đều có khuynh hướng nam tính hơn những trẻ em lớn lên ở nông thôn. Nhìn bề ngoài trẻ em thành thị có vẻ nữ tính hơn trẻ em nông thôn nhưng xét từ đặc trưng tâm hồn trẻ em nông thôn lại nữ tính hóa hơn rất nhiều.

  
  

More...

Câu Chuyện Đường Tăng

By NGUYỄN THÁI THANH

Đường Tăng Huyền Trang là một nhân vật lịch sử. Một tăng sĩ dũng cảm thông minh tinh tế và là một học giả uyên thâm kinh điển Phật giáo. Ông là một học giả thiên tài và nghiêm túc đã dịch rất nhiều sách Phật giáo ra chữ Hán. Ông đã ghi chép cẩn thận những gì mắt thấy tai nghe trên đường đi thành tập "Tây Du Ký". Đây là một tài liệu giá trị về xã hội địa dư tôn giáo và lịch sử của Ấn Độ thời ấy. Nhưng chẳng mấy ai đọc " Tây Du Ký" của Huyền Trang.

Ngô Thừa Ân không sử dụng tài liệu lịch sử của Huyền Trang mà lại hư cấu một "Tây Du Ký" khác. Dưới ngòi bút của Ngô Thừa Ân Huyền Trang học giả biến thành một Đường Tăng khù khờ cả tin hơi u mê và nhiều khi từ bi không đúng chỗ. Tuy nhiên thầy trò Huyền Trang Tam Tạng của Ngô Thừa Ân lại được nhiều người Á Đông biết đến và say mê vượt rất xa tác phẩm và nhân vật Huyền Trang chính thức.

Vào đầu thập niên 90 Trương Quốc Dũng đã hư cấu một Huyền Trang khác trong truyện thật ngắn mang tựa đề "Đường Tăng". Trong lời bạt của cuốn sách "40 truyện rất ngắn" nhà phê bình Lê Ngọc Trà nhận định sắc nét: "Truyện Đường Tăng đầy những câu văn ngắn có hồn. Chữ ít nhưng dường như chữ nào cũng sống cũng có một âm điệu tình cảm một không gian...". Xin được phép trích nguyên văn truyện thật ngắn này một trong hai truyện được giải nhất trong cuộc thi truyện rất ngắn 1993-1994 (dưới 1000 chữ) của bán nguyệt san Thế Giới Mới:

"Đêm cuối cuộc trường chinh đầy gian khổ ngày mai vào yến kiến Như Lai để lên kiếp Phật Đường Tăng trằn trọc không sao ngủ được. Suốt cuộc đời tâm nguyện tới cõi này giờ đây khi sắp trút bỏ kiếp người ông bỗng thấy lòng day dứt.

Nhiều ngày nay thân thể Đường Tăng đã rã rời đầu óc mộng mị tay biếng lần tràng hạt. Tâm linh như muốn níu chân dừng lại. Máu ông nhức nhối thấm lần cuối qua tim cứa vào quá khứ đau xé. Ông nhớ tới những người sinh thành ra mình. Tình cha huyết mẹ tạo nên mà bao nhiêu năm nay ông không một lần thắp hương không một lần nhắc nhở.

Chặng đường dài tới đất Phật khiến trái tim ông dần chai sạn. Ông đã quá nhiều lần phải lạy lục cầu khẩn các thần lớn bé đã quá nhiều lần dẫm đạp lên xác máu yêu ma xa gần chỉ với mục đích: mau thành chính quả. Ông thương người. Nhưng đêm nay trước ranh giới cuối cùng của cõi Người và Phật ông chợt hiểu ra cội rễ của tình thương ấy. Mỗi lần cứu giúp con người ông chỉ thầm tính toán như xây thêm cho mình một bậc thang tới Phật đài.

Nhiều lần Đường Tăng đã tự hỏi tại sao nước mắt mình ngày càng lạnh giá. Giờ đây ông thầm biết trên con đường thỉnh kinh về cứu rỗi người đời ông đã dần dần xa lạ với con người.

Ông trở mình thở dài: không là người ta sẽ là ai? Yêu quái cản đường biết bao kẻ chính từ trên đây xuống pháp thuật vô biên ác nghiệt vô cùng. Ta nhập vào chốn ấy biết rồi thành Phật hay thành ma?

Đường Tăng chợt nhói trong tim. Ông khẽ rên lên hai tay ôm ngực. Mở mắt thấy các đồ đệ đang đứng bên gường nhìn ông lo âu. Cả ba hình như đều không ngủ.

Đường Tăng thở hắt: "Không sao đâu. Ta chỉ chợt nhớ tới ngày xưa". Nói rồi lại nhắm mắt.

Nghe tiếng Ngộ Không: "Xin thầy đừng tự dối lòng. Thầy đang nhớ cả kiếp người - Đường Tăng rùng mình khi nghe giọng Ngộ Không quá u uất -
Con từ đá sinh ra. Coi thường cả thần thánh yêu ma chỉ mong được thành người. Thầy đã là người lại tự bỏ mình đi tìm hồn phách khác. Đêm nay sao khỏi xót xa".

Bát Giới cười khẽ:
"Làm người có gì vui. Chúng ta đã dốc lòng theo đạo ngày mai được lên chốn thần tiên sung sướng biết bao nhiêu. Thầy đừng luyến tiếc".

Sa Tăng an ủi: "
"Thầy trò mình sắp hóa Phật mang đạo xuống khai sáng cho loài người. Công quả vĩ đại lắm!".

Đường Tăng lắc đầu nằm im hồi lâu hai tay vẫn đặt lên tim mắt vẫn nhắm nước mắt trào ra ấm nóng lại. Rồi như trăng trối:
"Ta ước gì đêm nay đừng sáng. Ta đau đớn cho mười mấy năm viễn du. Ngộ Không ơi! Một đời con mong được thành người thì bị bắt ép theo ta để thành Phật. Bát Giới tự dối mình là giác ngộ thật ra chỉ là đi tìm một chốn hoan lạc mới. Sa Tăng rời cõi u mê này sang cõi hoang tưởng khác mà lại hy vọng khai sáng cứu vớt con người".

Ngộ Không sụp xuống nắm tay thầy nghẹn ngào:
"Thầy đã nhận ra chân lý. Nhưng chậm quá rồi".

Đường về. Qua sông. Thiên sứ vừa cười vừa chỉ cho Đường Tăng thấy xác ông đang trôi dạt dưới cầu.

Nhưng Đường Tăng đã không nghe thấy gì nữa. Đôi mắt vô hồn".

Cũng như Ngô Thừa Ân ngày xưa trong truyện rất ngắn trích dẫn ở trên Trương Quốc Dũng đã hư cấu nhân vật Đường Tăng. Thành ra đúng như Lê Ngọc Trà đã nhận định ở đây "không phải là chuyện lựa chọn giữa Phật và đời giữa tâm linh và vô thần duy vật. Tác giả chỉ mượn cốt truyện xưa để gửi vào đó một điều mình suy nghĩ vì vậy ở đây Phật chỉ có nghĩa như một điển tích một hình ảnh". Phải chăng điều Trương Quốc Dũng muốn gửi gấm được gói trọn trong tâm sự cuối cùng của Đường Tăng: "Không còn là người không phải là người thì sao đồng cảm mà đòi khai sáng cứu vớt con người"?

Nét sáng tạo độc đáo của tác giả nằm ở chỗ đề cao và gắn bó với kiếp người. "Khác với Tây Du Ký ở đây Đường Tăng người hơn đời hơn và dễ thương hơn. Cũng "nhại" truyện Tây Du nhưng đến phần cuối tác giả bất ngờ rẽ sang lối khác để cho Đường Tăng "ngộ" ra không phải cái thuộc về đạo mà là cái thuộc về đời - cái chân lý về giá trị của cuộc sống ý nghĩa của sự hy sinh và con đường "cứu vớt con người"... Hóa ra kiếp người dẫu lầm than và buồn chán bao nhiêu vẫn là một kiếp sống một sự sống trên cõi đời này. Được sống được làm người vẫn là điều quý giá nhất" (Lê Ngọc Trà).

  
  

More...

Nhân Đạo Khổng Giáo

By NGUYỄN THÁI THANH

Cơ sở động lực và tư tưởng căn bản của Khổng giáo là đức Nhân một đức Nhân bắt rễ thâm sâu tự đáy bản thể con người một đức Nhân mở rộng ra trong mọi lãnh vực sinh sống của xã hội và một đức Nhân vươn lên những chiều cao siêu việt của cuộc sống. Đức Nhân là cái tổng hợp kết tinh và quán xuyến tất cả đạo lý của Khổng Tử như chính ông đã nói: "Ngô đạo nhất dĩ quán chi". Chữ Nhân là một chữ hội ý gồm chữ người và chữ số hai ngụ ý nói về tương quan giữa người với nhau thực hiện đến một mức lý tưởng. Chữ nhân thường được diễn tả qua những tiếng: có tính người có tình người con người có lòng con người có bụng dạ. Nội dung gồm: tâm tình quý trọng kính mến yêu người tự trọng đối với chính mình và quý trọng cuộc sống; từ đó có thái độ bao dung đại lượng tin cậy cảm thông liên đới giúp giùm có khuynh hướng đặt mình vào địa vị của người và tìm hiểu người như hiểu chính mình.

Một số bình phẩm thường cho rằng đức Nhân trong Khổng giáo là tiêu cực có thứ bậc hay chỉ giới hạn trong vòng người thân không biết thương kẻ thù nghịch nhất là khi so sánh với Mặc Tử với thuyết Kiêm ái chủ trương yêu thương mọi người không phân biệt với Phật giáo qua giáo lý Từ bi dạy yêu thương tất cả vạn vật chúng sinh cũng không phân biệt với Cơ Đốc giáo chủ trương yêu thương đến cả những người thù nghịch với Lão Tử chủ trương lấy đức báo oán lấy điều lành mà ăn ở cả với những kẻ không lành (Đạo Đức Kinh). Những bình phẩm trên đây có thể có phần đúng nhất là sau này khi Khổng giáo đã bị chi phối bởi nhiều trường phái và các chính thể nặng pháp lý quyền hành và tư lợi. Nhưng một tìm hiểu đầy đủ chính xác và khách quan về đức Nhân trong Khổng giáo nguyên thuỷ sẽ đưa ta tới những khám phá không kém sâu xa bao la và cao cả.


Cái đức Nhân quán xuyến tất cả đạo lý của Khổng Tử đi từ bản thân qua người đồng loại rồi vươn lên những chiều cao siêu việt được diễn tả cô đọng trong những câu sau đây. Bắt đầu từ việc điều chế bản thân: "khắc kỷ phục lễ vi nhân": chế thắng lòng tư dục và theo về lễ tiết nguồn gốc đó là nhân (Luận Ngữ 12:1). Đối với người đồng loại thì có 5 đức tính diễn tả đức Nhân đó là "cung khoan tín mẫn huệ": kính cẩn khoan dung độ lượng trung tín siêng năng giúp giùm ban biểu ơn huệ (LN 17:6). Tránh cho kẻ khác những điều mà mình không muốn kẻ khác làm cho mình: Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân" (LN 15:23). Không những thế mà còn rất tích cực xem người như chính mình để làm cho họ cũng được thành nhân và thành đạt: "Kỷ dục lập nhi lập thân kỷ dục đạt như đạt nhân". Đức Nhân đó lại còn đi rất xa và mở lòng ra rất lớn không những kiêm ái một vài người hoặc trong vòng dăm ba người thân nhưng là đi đến hết mọi người và không còn phân biệt thân sơ không những giúp giùm trong đôi ba công việc nhưng là độ lượng và tận tụy đến kỳ cùng: "bác thí ư nhân nhi năng tể chúng": thi ân bổ đức cho khắp cả dân gian lại hay cứu tế cho đại chúng; được như thế thì theo Khổng Tử không những phải gọi là bậc nhân mà còn xem là bậc thánh nữa kia (LN 6:28).


Mạnh Tử cũng cùng một đạo lý đức Nhân như Khổng Tử đôi khi lại còn diễn tả một cách có thể hiểu xa hơn như về đức Nhân đối với kẻ thân cũng như người sơ: "nhân giả ái nhân": người có nhân thì yêu người (Mạnh Tử) và "nhân giả vô bất ái dã": người có nhân không thể không yêu người (Mạnh Tử). Hoặc khi nói về thái độ đối với kẻ tốt người xấu không phân biệt: "nhân giả dĩ kỳ sở ái cập kỳ sở bất ái": người nhân giúp đỡ từ chỗ thân ái đến chỗ chẳng thân ái (Mạnh Tử). Với thí dụ với một đứa bé rơi xuống giếng ai nấy đều động lòng trắc ẩn mà ra tay cứu vớt không phân biệt đứa bé là ai cũng không chờ khen chê.


Ngoài ra đức Nhân không chỉ có nghĩa trong lãnh vực luân lý mà còn thấu suốt bao trùm các lãnh vực văn hoá và tinh thần. Trong lãnh vực văn hoá đức Nhân phải đi cùng với trídũng. Có lòng nhân muốn cứu một người rơi xuống giếng không có nghĩa là cứ nhẩy ào xuống giếng nhưng là phải suy nghĩ tìm phương cách đưa nạn nhân lên. Lòng nhân cũng không có nghĩa là mềm yếu thụ động gặp hoạn nạn nguy hiểm thì ngồi bó tay than thở nhưng là nghĩa liệt can đảm và thực hiện những điều phải làm dẫu có gặp khó khăn. Có văn hoá còn là kẻ có nhân cách: biết suy nghĩ khách quan chính xác độc lập. Khổng Tử gọi những người này là người quân tử. Người quân tử biết hoà nhã nhưng không đồng tình việc làm quấy: "quân tử hoà nhi bất đồng" (LN 13:23) biết hợp quần mà không bè đảng: "quần nhi bất đảng" (LN 15:21). Có văn hoá cũng còn là có tâm hồn thẩm mỹ biết rung cảm trước những cảnh đẹp thi văn âm nhạc. Có lần Khổng Tử nghe nhạc Thiều (thời vua Thuấn) thích thú đến ba tháng không còn biết đến miếng ăn mùi thịt (LN 7:13). Ai không hiểu chút gì về nghệ thuật thì Khổng Tử cho là còn nửa con người mà thôi.

 Đức Nhân còn bao gồm cả lãnh vực tinh thần mà ngày nay ta gọi là bản vị là tính danh. Đó là bản sắc riêng biệt của một con người một nền văn hoá một dân tộc mà con người có đức Nhân cảm gắn bó liên hệ và có bổn phận duy trì và phát huy.


(Trích từ Thư mục HỘI NHẬP VĂN HÓA của ntt)

  
  

More...

Thế Giới Đạo Và Đức Của Lão Tử

By NGUYỄN THÁI THANH

1. Đạo và Đức: Để thực hiện một cuộc sống lòng dạ nên trống vắng những tham lam và tâm tư được hoà nhịp với lẽ thường hằng của thiên nhiên vạn vật Lão Tử đã chủ trương trở về với Đạo và sức sống kỳ diệu của Đạo là Đức.

a. Đạo: Chữ Đạo đã có từ thời cổ đại Trung Hoa với những Kinh Điển như Kinh Thi Kinh Thư Kinh Dịch... xuyên qua những tác phẩm cổ điển là Tứ Thư như Trung Dung Luận Ngữ Mạnh Tử... và thường xuyên được dùng trong ngôn ngữ và cuộc sống dân gian. Chữ Đạo diễn tả rất nhiều nghĩa từ những nghĩa vật chất luân lý tri thức siêu hình cho đến tôn giáo. Ngoài ý nghĩa Đạo là đường Đạo cũng còn có những ý nghĩa: phương tiện để đạt mục đích con đường phải đi theo con đường đức hạnh cơ sở của khôn ngoan trí huệ ý lực ngay thẳng đúng đắn giáo lý nguyên tắc luật lệ ý nghĩa của hiện hữu hay của một sự vật tác động ảnh hưởng nói giải thích lèo lái dẫn dắt.

Ta có thể đúc kết các nghĩa của chữ Đạo trong 3 loại: siêu việt hiện trần và con đường sống.
* Với nghĩa siêu việt Đạo chính là thực tại tối hậu: Đạo trong nghĩa này vượt quá tầm mức hiểu biết của con người. Ngay câu đầu trong Đạo Đức Kinh đã nói: "Đạo khả đạo phi thường Đạo" (Đạo mà nói ra được thì không phải là Đạo thường hằng). Dẫu thế Đạo "không diễn tả nên lời này" lại là cơ sở là gốc là ngọn nguồn và là cùng đích của mọi sự vật. Bên trên đàng sau và phía dưới mọi sự là cung lòng Đạo từ đây mọi sự sống được vươn lên và nơi đây mọi sự sống được trở về. Tác giả Đạo Đức Kinh đã đầy tôn kính và ngưỡng mộ chỉ biết thốt lên lời hoan ca khi được giáp mặt với huyền bí nguyên thuỷ của sự sống huyền bí của mọi huyền bí: Thật là cao sáng! Thật là tĩnh lặng! Phải là cái gì vô thuỷ vô chung không có bắt đầu không có cùng tận! Trong mọi vật lớn Đạo phải là cái lớn nhất: Gượng cho là lớn lớn là tràn khắp tràn khắp là đi xa đi xa là trở về; thật đây là cửa ra vào của mọi huyền diệu trong trời đất! (Đạo Đức Kinh câu: 1 14 16 21 25). Sự bất khả diễn tả đã là điều quá rõ rệt ta sẽ chỉ còn là rơi vào lời cảnh giác bao hàm chế riễu: "Tri giả bất ngôn ngôn giả bất tri" (Kẻ biết thì không nói kẻ nói thì không biết) - (ĐĐK c. 56).

* Mặc dầu siêu việt như thế Đạo đồng thời cũng là hiện trần. Trong nghĩa này Đạo dùng để chỉ cái Đạo Thiên Nhiên là chuẩn mực tiết nhịp sinh lực của trời đất nguyên lý của trật tự điều hành phía sau mọi sự sống. Phía sau mọi sự sống mà cũng là bên trong mọi sự sống; trong nghĩa này Đạo đã "thành xác thể" điều động mọi sự vật thích nghi với sự vật hoà đồng với sự vật: "làm nhụt bén nhọn tháo gỡ rối răm điều hoà ánh sáng đồng cùng bụi bặm: "đồng kỳ trần" (ĐĐK c. 4 56).

* Đạo trong nghĩa con đường sống: Vì Đạo theo nguyên lý là tinh thần hơn vật chất nên Đạo không hề vơi cạn càng được mong cầu càng nhiều ban cho vì Đạo là giếng nguồn không khô cạn. Đạo cũng mang dấu ấn "tàn nhẫn bất tất" vì với mùa thu đến không một chiếc lá nào vì lẽ nó đẹp không một bông hoa nào vì lẽ nó thơm mà lại được châm chước thứ tha không phải tàn lụi. Nhưng thực chất cuối cùng Đạo là lành là tốt; thay vì bức bóc đi nay Đạo lại ban cho sức mạnh can trường sự sống dẻo dai và là đầy tràn vì Đạo cũng là "mẹ thiên hạ" (ĐĐK c. 25). Là năng lực của thiên nhiên Đạo giống như khái niệm "sinh lực" (énergic vitale) của truyền thống Phi châu như quan niệm "đà sống" (élan vital) của Bergson. Là chuẩn lực của vạn vật Đạo giống như khái niệm "luật vĩnh hằng" (lex aeterna) của thời cổ đại kinh điển luật trường cửu gây tạo cơ chế cho vũ trụ thiên nhiên. Đạo hiểu như thế cũng giống như là "nguyên lý dung hội chủ toàn" một nguyên lý kết hợp và chuyển hoá các thành tố nên một để phục dịch toàn thể (principe integrant pour la totalité) của George Romanes bạn đồng nghiệp của Charles Darwin nhà khoa học chủ trương Thuyết tiến hoá.

b. Đức: Chữ Đức thường được hiểu trong một nghĩa luân lý như đức hạnh đạo hạnh kèm theo một chút ít màu sắc tôn giáo lễ nghi phong tục giới tính như khiêm nhu trinh bạch. Đức còn có nghĩa là khả năng thích ứng giỏi giang quả cảm đáng giá như khi nói về một con dao có khả năng cắt xén tốt. Đức còn là khả năng linh thiêng là linh lực sinh lực thần thiêng. Tiến thêm một bước nữa Đức là toàn thể nhân cách một con người cùng với linh lực phân xuất ra từ con người đó.
Đức trong Đạo Đức Kinh lại mang một nghĩa đặc biệt: Đức là sinh lực sinh lực cấp dưỡng nuôi nấng đùm bọc bồi bổ chở che. "Đạo sanh Đức dục" (Đạo sinh ra Đức nuôi dưỡng) - (ĐĐK c.51). Đạo là nguyên lý vô hình Đức là nguyên lý hữu hình Đạo là không tên Đức là có tên. Đức làm cho con người có thể trở nên như con đỏ (ĐĐK c. 55) trở về với đơn phác cùng với những đức tính như chính Đạo đã có (ĐĐK c. 25); Đức cao mà như trũng thấp Đức giầu mà như không đủ Đức vững mạnh mà như cẩu thả (ĐĐK c. 41). Đức là thiện là trung thực (ĐĐK c.49) là trung tín (ĐĐK c. 79) là không tranh chấp (ĐĐK c. 68 73) sanh mà không chiếm là của mình làm mà không cậy công là bậc trên mà không làm chủ đó gọi là Huyền Đức (ĐĐK c. 51). Những ai thật theo Đạo thì tích được nhiều Đức tích được nhiều Đức thì không gì khắc phục được không gì khắc phục được thì năng lực mình không biết tới đâu là cùng năng lực không biết tới đâu là cùng thì trị được nước nắm được gốc mẹ của đạo trị nước thì có thể tồn tại được lâu dài đó gọi là rễ sâu gốc vững là nắm được cái Đạo thường tồn (ĐĐK c. 59). Đức trong Đạo Đức Kinh có thể tóm kết vào ba điểm sau đây: *như là vật thuộc về Đạo và không thể phân lìa khỏi Đạo *bao gồm những đặc tính mà chỉ Đạo mới có *Đạo và Đức cùng bảo trợ và nuôi dưỡng thế giới hiện tượng.

2. Nhu mềm - nước trũng - tính nữ - lòng từ:
Điều mà trong Đạo Đức Kinh có lẽ đánh động độc giả hơn cả là tính nhu mềm tính nữ: nhu mềm và tính nữ trong Đạo trong Đức trong thế giới. Một điều đáng lưu ý là tính nữ ở đây có phần nào tương tự như tính âm nhưng lại vượt hẳn âm tính. Trong thuyết âm dương dương và âm thay đổi nhau để tác động; còn trong Đạo Đức Kinh thì tính nữ tính nhu mềm luôn thắng tính nam tính cường mạnh (ĐĐK c. 36 61 78). Đó là điều khác biệt và là một điều khác biệt lớn.

a. Nhu mềm: "Mềm yếu thắng cứng mạnh" (ĐĐK c. 36 78); "Cứng mạnh cùng loài với sự chết mềm yếu là bạn của sự sống" (ĐĐK c. 76) đó là câu Đạo Đức Kinh thường được trích dẫn và trích dẫn nhiều nhất là tư tuởng phổ biến nhất của Lão Tử. Ngay những người duy vật cũng thích dùng câu này áp dụng cho trường hợp những người yếu hèn và bị áp bức sẽ thắng những người hùng mạnh đàn áp. Đó là tư tưởng nằm trong truyền thống Trung Hoa được ghi lại rất nhiều trong kho tàng văn học triết lý tôn giáo nghệ thuật y khoa và cả đến trong các môn võ thuật.

b. Nước trũng và khe lạch: Nước tượng trưng cho sự ban cho mà không đòi hỏi đáp trả làm lợi ích cho vạn vật mà không tranh dành. Nước tìm đến chỗ trũng thấp nơi mà người ta thường xa tránh; nhưng chính vì thấp mà nước có lợi nhờ thế mà nước trở nên mạnh mạnh nhất mặc dầu nước là mềm yếu nhất trong mọi vật : Dưới trời mềm yếu không gì hơn nước / Thắng được vật cứng không gì bằng nước / Không gì thay thế nó được (ĐĐK c. 8 78).

c. Lòng Từ: Nhu mềm nước trũng khe lạch tính nữ... là những tư tưởng tiên phong dự báo cho một đức tính lớn lao hơn nữa đó là lòng từ. Lòng từ là báu vật thứ nhất trong 3 vật báu mà Lão Tử hằng ôm ấp nắm giữ và muốn trao đổi lại (hai báu vật kia là lòng kiệm và khiêm - ĐĐK c. 67). Lòng từ của Lão Tử nhắm trở nên hữu ích cho muôn loài (ĐĐK c. 8 34) giúp cho chúng nhân hối cải mà trở về (ĐĐK c. 64) lấy cái lòng của trăm họ làm lòng của mình (ĐĐK c. 49); nếu có phải tranh đấu thì cũng tranh đấu bằng lòng từ: như thế mới thật thắng mới giữ vững. Lòng từ quan trọng đến nỗi nếu Trời muốn cứu ai thì cũng cứu bằng lòng từ (ĐĐK c. 67). Điều ngỡ ngàng cảm kích và đáng tôn quý nữa là Lão Tử chủ trương một lòng từ với tất cả mọi người không chút phân biệt: cả người lành lẫn người dữ không một ai bị loại bỏ (ĐĐK c. 27 49 62). Lão Tử hỏi: Với kẻ không lành tại sao lại bỏ chúng? (ĐĐK c. 62). Không phải đây là chiến thuật dụ người: Với kẻ chẳng lành cũng lấy lành mà ở để được lành; với kẻ không thành tín cũng lấy thành tín mà ở để được thành tín (ĐĐK c. 49); Lão Tử cho biết lý do: Người theo Đạo thì xem tất cả mọi người như con mình (ĐĐK c. 49) và nhất là lấy chính Đạo làm mẫu mực; mà Đạo thì không những là chỗ ẩn náu sâu kín cho vạn vật là của chân châu cho người lành mà còn là nơi nương dựa cho kẻ không lành. Đến nỗi Đạo còn ban ơn cho mọi kẻ cầu xin và tha thứ cho kẻ có lỗi; cũng vì thế mà Đạo là "vật quý của thiên hạ" (ĐĐK c. 62). Những ai không biết được điều đó chỉ quý người lành mà không biết quý người chẳng lành thì dẫu họ được gọi là bậc trí thì thực ra họ cũng chỉ là kẻ mê lầm to. Đó quả thật là điều "huyền diệu" (ĐĐK c.27).

*** Thế giới Đạo và Đức của Lão Tử
không phải chỉ biết quan sát thiên nhiên vũ trụ. Mục đích của Đạo Đức Kinh là cuộc sống cuộc sống của con người thiên nhiên và xã hội.
Đối với Lão Tử Đạo là thực tại thâm sâu cuối cùng làm cơ sở cho mọi sự vật trong thế giới hiện tượng; sinh lực nuôi dưỡng điều hoà và phát triển vạn vật là Đức được quan niệm như một thuộc tính của Đạo. Điều rất quan trọng và đặc sắc là sinh lực của Đức hoạt động mãnh liệt nhưng âm thầm từ tốn khiêm nhu giống như nước như con mái như người nữ như người mẹ. Đạo Đức Kinh đã trình bày một khái niệm rất mới rất độc đáo và rất an nhiên về Đạo. Có thể nói tác giả của Đạo Đức Kinh phải đã có được một cái nhìn siêu hình rất mới và rất thâm viễn về Đạo mà các văn triết nhân trước đó chưa có được. Tác giả đã đem lại cho Đạo một nội dung mới mà trước đó trong tư duy triết học chưa hề có và sau đó chưa có ai đã vượt xa hơn.


(Trích từ Thư mục HỘI NHẬP VĂN HÓA của ntt)

  
  

More...

Kinh Nghiệm Giác Ngộ Của Đức Phật

By NGUYỄN THÁI THANH

Đức Phật trong thời gian bỏ nhà đi tìm đạo được gọi là sa môn Gotama ròng rã 6 năm trời đi học đạo với các lễ sư Balamôn cũng như thực tập các môn ăn chay phạt xác rất nghiệt ngã. Cuối cùng ông thấy giáo lý Balamôn cũng như các việc ăn chay phạt xác đều là vô nghĩa. Ông bèn tìm đến một gốc cây pippala (sau này gọi là cây Bồ đề) rồi suốt nhiều ngày trầm tĩnh nhiếp tâm theo dõi hơi thở và thiền định. Bỗng một buổi sáng sớm kia khi sao mai vừa mọc thì Gôtama quán chiếu được vạn vật là vô ngã nhưng đồng thời muôn loại chúng sinh đều có mặt trong nhau trong một tương quan đồng sinh đồng tử đồng hiện hữu - gọi là tương tức tương nhập tương tác - và vạn pháp của vũ trụ thế giới và lịch sử được thường tồn bất sinh bất diệt giống như sóng chỉ là hiện tượng mà trước sau vẫn thật chính là nước. Với cái thấy này sa môn Gôtama cảm thấy không còn bị ràng buộc vào lưới sinh tử; và do đó ông đạt được một tâm trạng an ổn không còn lo âu sợ hãi. Gôtama bừng sáng giác ngộ; ông bất giác mỉm cười nụ cười của ông như một bông hoa khi sao mai vừa mọc và khi trời vừa sáng. Gôtama nay được gọi là Bụt (buddha) nghĩa là người giác ngộ.

     IMG_2251 by you.  
                               Tháp Bút - Kinh Bắc (Ảnh: ntt)

 
Kinh nghiệm giác ngộ của Đức Phật là gì? Đó là kinh nghiệm về sự vô ngã cái vọng ngã của lòng tham: tham sinh tham ái tham dục tham thân suy tôn mình là chủ thể và chủ tể biệt lập đó còn là kinh nghiệm về pháp giới (dharma) nghĩa là về chân lý muôn vật có mặt trong nhau nương tựa vào nhau và thường tồn bất sinh bất diệt. Giác ngộ đây chính là đạt tới chân thức chân tâm nghĩa là được tham dự vào một thực tại lớn lao thường tồn bao trùm tất cả chúng sinh vạn vật. Nhưng một khi Sakyamâuni (mâuni là danh hiệu của người có lòng nhân ái) thấy được chân lý thì ông đồng thời cũng cảm được lòng thương xót đối với chúng sinh đang lặn ngụp trong mê lầm trong đau khổ. Nếu muôn loài chúng sinh là một thì không ai có thể thực sự hạnh phúc bao lâu mà chưa phải tất cả mọi người mọi loài trong vũ trụ và thế giới cũng được hạnh phúc. Do đó mà đức Phật đã trở về lại với các bạn đồng nghiệp sa môn ngày trước để trao đưa tin vui giải thoát trở về lại với chúng sinh khắp nước mọi miền - và như thế trên 40 năm trường - để chỉ bày con đường chân thức giác ngộ và giải thoát. Hai trong bốn lời thệ nguyện của những người theo chân đức Phật đã nói lên mối tương quan giữa thấy chân lý và lòng thương xót: Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn. Hiểu biết và thương xót chân lý và từ bi đó là những hệ quả thiết yếu của sự giác ngộ về chân tâm và chân thức.


Kinh nghiệm của đức Phật đã đưa Ngài tới chân tâm chân thức không phải qua giáo lý trừu tượng cũng không phải qua ăn chay hành xác nghiệt ngã nhưng là qua trầm tĩnh quán chiếu và thiền định. Thật là một điều lạ lùng vô cùng lạ lùng: Làm thế nào mà thiền định lại có thể đưa đến sự nhìn nhận được chân tâm chân thức? Đứng về tri thức luận mà bàn thì ta có thể nói lên một chân lý như sau: Bạn chỉ biết trà ngon khi bạn đích thân uống trà chứ không phải bạn nghe kẻ khác nói trà ngon. Đây là vấn đề tri thức và cảm nghiệm tri thức phân biện trừu tượng và trí huệ thấu thị trực kiến. Dĩ nhiên thiền định trọn nghĩa không chỉ là trong khi ngồi nhưng còn là trong trọn cả cuộc sống không chỉ là tập trung tư tưởng nhưng còn là gồm cả khắc kỷ tu thân ý thức trên mọi hành động và hợp thông với chân lý tối cao cũng như với muôn loại chúng sinh; thiền định như thế gồm cả cuộc sống trong Giới ĐịnhTuệ.

(Trích từ Thư mục HỘI NHẬP VĂN HÓA của ntt)

More...

Thử Nhận Diện Con Người Việt Nam (Phần Cuối)

By NGUYỄN THÁI THANH

                                                                                                          Nguyễn Thái Hợp

4- THỜI TRANH TỐI TRANH SÁNG
Nói chung nếp sống tinh thần của Nho Lão Phật và Kitô giáo xây dựng trên đạo đức cá nhân với sự tự chế bên trong và sự kiểm soát của lương tâm cũng như của Trời Phật Chúa. Con người sống với nhau được ràng buộc bởi đạo đức cá nhân tình liên đới và tình đồng bào.
Tự cổ chí kim tiền tài sắc dục danh vọng tiện nghi vật chất... luôn mời mọc và quyến rũ con người. Trước ma lực của chúng không còn cách nào khác hơn là lựa chọn: buông thả sống theo xung lực sôi động của bản năng hay biết tự chế trước sức thúc đẩy của bản năng tự phát và thăng hoá dần những khuynh hướng xấu tiềm ẩn trong ta để tạo cho mình một nhân cách một sự nghiệp một thế đứng trong xã hội. Giá trị đạo đức cổ truyền đã góp phần tạo nên một lối sống cách thế ứng xử và sức tự chế bên trong giúp người dân sống ngay thẳng cố gắng làm lành lánh dữ biết sợ tội và gắn bó tình cảm với người thân bạn bè láng giềng đồng loại.
Kể từ năm 1945 ở miền Bắc và năm 1975 ở miền Nam các giá trị xã hội chủ nghĩa được sử dụng làm kim chỉ nam cho cuộc sống thay thế các giá trị đạo đức cổ truyền. Dưới thời bao cấp bộ máy tuyên truyền và những hình thức chế tài đã được Nhà nước sử dụng để thay thế những giá trị đạo đức cũ bằng đạo đức cách mạng và lí tưởng Cộng sản về một xã hội không giai cấp... Cho đến cuối thập niên 80 có thể nói các giá trị xã hội chủ nghĩa phần nào đã trở thành chuẩn mực cho cuộc sống và trở thành tư tưởng chủ đạo trong xã hội Việt Nam.
Nhưng từ khi bức tường Bá Linh sụp đổ và việc du nhập "kinh tế thị trường" các giá trị xã hội chủ nghĩa bị sói mòn. Không những về mặt kinh tế chế độ bao cấp đã đưa đất nước đến bên bờ vực thẳm mà ngay cả về mặt chính trị- xã hội cũng không còn đủ khả năng giải quyết các vấn đề thực tế và trả lời cho những khát vọng muôn mặt của con người. Xã hội Việt Nam đã rệu rạo mất định hướng và rơi vào tình trạng tranh tối tranh sáng.
Luật sư Nguyễn Ngọc Bích ví von việc "chuyển hướng từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường trong năm 1987 giống như một người điêu khắc lúc đầu định khắc một hình kim tự tháp được nửa chừng thì quyết định chuyển từ kim tự tháp sang hình cầu. Về mặt tri thức việc này khó. Phần nào của kim tự tháp phải cắt đi và cắt đi bao nhiêu để- trong ngôn ngữ chính trị- vẫn đạt được sự phát triển kinh tế mà không phải hi sinh an ninh quốc gia cũng như các lí tưởng của Chủ nghĩa Xã hội. Về mặt vật chất sự chuyển đổi kia giống như một chiếc xe buýt chở đầy khách và hàng hoá đang leo núi. Nửa chừng người ta khám phá ra chiếc xe không đủ nhiên liệu để đi lên đỉnh. Vì vậy chiếc xe buýt phải quay ngang không quay lại nhưng rẽ sang trái tìm cách đi về hướng biển mà không thấy có một con đường mòn nào trước mặt. Vấp ngã sa lầy nghiêng ngả của chiếc xe trên con đường đi xuống là không thể tránh được. Việc hàng rơi người ngã chỉ là hệ quả. Chiếc xe buýt tiêu biểu cho nền kinh tế thị trường định hướng hàng rơi người ngã tiêu biểu cho tư bản hoang dã. Chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường mà vẫn duy trì những giá trị xã hội chủ nghĩa là một điều chưa xẩy ra trước đây. Nó đòi hỏi chính phủ Việt Nam phải thực hiện nhiều công tác cùng một lúc từ việc chuyển những định chế hiện thời sang những cái phù hợp với nền kinh tế mới trong khi phải chống lại những cách suy nghĩ đã tồn tại từ nền kinh tế cũ".
Đất nước càng mở cửa thì sức ép của chế độ trên đời sống của người dân ngày càng lỏng lẻo. Lí tưởng xã hội chủ nghĩa hầu như chỉ còn là những kí ức xa mờ hay những khẩu hiệu đẹp đẽ của một thời đã qua. Kinh tế thị trường được áp dụng ở Việt Nam thực ra chỉ là một thứ tư bản hoang dã và chế độ tự do ở Âu Mĩ nhiều khi bị đồng hoá với thứ tự do phóng túng. Các giá trị đạo đức cổ truyền bị phủ nhận dưới thời bao cấp vẫn chưa được phục hồi đúng mức. Trong khi đó một số hình thức mê tín dị đoan và tục lệ trước đây bị nghiêm cấm lại bùng nổ ngoài tầm kiểm soát của nhà nước.
Tình trạng tranh tối tranh sáng và vàng thau lẫn lộn này gây hoang mang cho nhiều người đặc biệt là giới trẻ. Vì không được giáo dục theo tiêu chuẩn đạo đức cổ truyền đồng thời cũng chẳng còn lí tưởng xã hội chủ nghĩa làm chuẩn mực cho cuộc sống nhiều người đang chao đảo và mất định hướng tước cuộc sống mới. Thật vậy nếu không cảm nghiệm được giá trị đạo đức của những tiêu chuẩn tự chế bên trong mà cũng chẳng còn những hình thức chế tài bên ngoài của xã hội hay sức thuyết phục của đạo đức cách mạng thì cái gì sẽ là qui tắc chủ đạo cho cuộc sống nói chung và sinh hoạt kinh tế nói riêng?
Từ đó thiết tưởng chúng ta cũng không nên quá ngạc nhiên khi thấy một số người đã đồng hoá thị trường tự do với "tự do phóng túng" phi đạo đức và bất chấp luật pháp. Ngày xưa người ta phủ nhận mọi giá trị tâm linh chối từ Thượng Đế và đối xử tệ với khách hàng. Ngày nay để kiếm tiền nhiều người đã không ngần ngại phong cho khách hàng làm "thượng đế ! Một khi không còn giá trị đạo đức vắng bóng lương tâm thiếu vắng lí tưởng xã hội và tình tự quốc gia dân tộc... con người biết lấy gì để lấp đầy sự trống vắng kinh hoàng đó? Thôi thì ai muốn làm gì thì làm miễn sao kiếm được nhiều tiền và có nhiều cơ hội để hưởng thụ. Trong hoàn cảnh đó chúng ta hiểu được tại sao một số người trẻ đang choáng ngợp dưới vẻ quyến rũ của xã hội tiêu thụ sống buông thả phó mặc cho sự hấp dẫn của tiền tình rượi ma tuý!
Viết về con người và cuộc sống hôm nay cho thấu đáo với sự hiểu biết cặn kẽ về những thay đổi kinh tế tâm lí và xã hội hầu như người ta chưa tìm được một cuốn sách đắc ý. Đa số cá tác giả vẫn viết tiếp tục về chiến tranh và những ngày qua. Một vài người đề cập đến vấn đề đương đại thì nội dung quanh quẩn vụn vặt chưa dám xông thẳng vào những bức xúc và vấn đề của con người trong thời mở cửa.
Ít nhất Nguyễn Việt Hà trong cuốn "Cơ hội của Chúa" đã diễn tả một phần cuộc sống ở Hà Nội vào cuối thập niên 80 và đầu 90 với cái bức xúc sôi động quay cuồng của một xã hội đang trải qua cơn sốt vỡ da. Trong một xã hội xuống dốc đạo đức vắng bóng và khủng hoảng lí tưởng đó dĩ nhiên tiền được phong thần lên ngôi. Nguyễn Việt Hà viết thẳng thừng không rào đón: "Muốn biết rõ về ai nên nhúng người ấy nhiều lần vào tiền. Cái thứ dung dịch siêu thặng này làm trôi đi tất cả những mầu mè bọc ngoài. Đạo mạo trở lên hau háu lỗ mãng. Dịu dàng trở nên chua ngoa cướp giật. Lịch sử nhân loại chứng kiến số người tự tử về tiền nhiều gấp mười tám lần số người tự tự vì tình. Có phải thế chăng mà đến thời kinh tế thị trường nền văn minh của chúng ta chết sạch những nhà đạo đức thật".
Tâm nhân vật chính trong chuyện là một thanh niên đang học cuối năm thứ tư ban Kinh tế kế hoạch bỏ học để đi lao động hợp tác ở Đông Đức nhưng kì thực là để buôn lậu. Về nước Tâm xây nhà cưới vợ và lập công ti sản xuất hàng nhựa. "Công ti kí được ba hợp đồng có lãi cường độ sản xuất cao mà cung vẫn chưa đủ cầu. Nhưng cái gì đến phải đến. Không khí lạc quan phủ đầy ba tháng rồi tắt ngấm (...). Vấn đề đầu tiên vấp phải khá cổ điển: Nguồn vốn (...). Cú vấp thứ hai mang tính quyết định là mặt trái của nền kinh tế thị trường 93% các công ti tư doanh chọn sự lừa đảo làm kim chỉ nam của hoạt động nghiệp vụ. Khoảng hai năm sau bằng sự dốt nát thượng thặng của các quan chức ngân hàng hệ thống hợp tác xã tín dụng nhân dân ra đời. Nó chết yểu một cách logic để lại danh thơm là vụ bể bạc lớn nhất thế kỉ của nền tài chính. Nó xứng đáng là cú song phi cước liên doanh giữa Ngân hàng và Quỹ tín dụng đá đúng vào trung tâm dưới của các cụ về hưu. Các công ti đặc biệt là những công ti hay làm từ thiện lộ rõ bộ mặt bất thiện".
Tiểu thuyết "Hai nhà" của Lê Lựu diễn tả khá sắc nét bối cảnh xã hội và tâm lí của một số người trẻ ở giai đoạn tranh tối tranh sáng này. Trong lá thư tuyệt mệnh của Trần Địa gửi người em kết nghĩa Trần Thanh Tâm chúng ta đọc thấy những dòng thật xót xa về một thế hệ từng được nuôi dưỡng bằng "hận thù" và đấu tranh bỗng nhiên bây giờ lại ngụp lặn trong thứ "tự do phóng túng" cặn bã từ Âu Mĩ du nhập vào. Dưới đây là một đoạn tiêu biểu:
"Tôi và vợ tôi đều giống cô vợ chú những kẻ sống suốt đời bằng lòng hận thù. Tất nhiên lòng hận thù của tôi là có mục đích tôi sẽ kể sau còn vợ tôi và cô ấy nhà chú thì lòng hận thù hồn nhiên và đơn giản lắm. Nó hồn nhiên như thói quen tự nhiên như ta hút lấy khí trời mà sống. Vợ tôi và cô ấy nhà chú những lứa tuổi "con em" chúng ta âý (cả tôi và chú đều bằng tuổi bố vợ mình chứ còn gì) từ khi tập tễnh học nói và nghe hiểu được điều người khác nói là đã học căm thù chứ không học yêu thương ít ai dạy lòng yêu thương thành thật. Căm thù bọn giặc cướp nước và bán nước là lẽ đương nhiên hết sức cần thiết nhưng căm thù giầu sang có lúc lại căm thù đói nghèo căm thù dốt nát lạc hậu căm thù bố mẹ căm thù anh em căm thù vợ chồng căm thù con cháu nếu họ rơi vào cái khung địa chủ phú nông (...). Sống căm thù nhiều quá thành ra lúc yêu thương chân thật không quen. Thói quen "căm thù" của một cơ chế cũ cộng với không khí dân chủ lưu manh từ tây Âu và nước Mĩ đưa lại không phải chỉ phá tan tành lớp người như vợ tôi và vợ chú mà còn nhiều đổ vỡ tiếp theo nữa. Ai sống không đúng ý họ căm thù. Ai hơn họ căm thù. Ai bảo họ phải sống có "đất lề quê thói" họ bảo mất nhân quyền. Ai khuyên họ: Phải sống "đói cho sạch rách cho thơm giấy rách phải giữ lấy lề". Họ bảo "mất tự do". Ai bắt họ phải kính trọng yêu thương và nghe lời bố mẹ họ bảo mất dân chủ. Cái dịch căm thù" và "mất" khiến loại người như vợ tôi và cô ấy nhà chú không thể yêu ai hơn chính bản thân họ. Mà họ thì cái gì cũng thấy mình mất mất rất nhiều thứ nên phải cố giật lại chụp giật thật nhanh thật nhiều thứ cũng chả thấm tháp gì. Bao giờ cho đủ khi lòng tham của đàn bà muôn đời vẫn là cái thùng không đáy. Giá như chú hiểu được như thế thì chú bớt đau khổ đi rất nhiều".
Bên cạnh "con người tiểu kỉ" ngày xưa cùng với hai đứa con hư của thời bao cấp là "thói đạo đức giả" và "vô trách nhiệm" cơ chế thị trường hoang dã được áp dụng tại Việt Nam đã sinh thêm hai đứa con hư nữa: đó là "nóng ruột kiếm tiền" và "cắm đầu hưởng thụ". Mọi nhược điểm và tệ nạn khác của xã hội Việt Nam hôm nay có lẽ chỉ phát huy tác hại trong môi trường của mấy đứa con hư này. Nếu đất nước chúng ta còn đứng vững đến hôm nay đó là nhờ ông bà ta cũng sinh được rất nhiều người con ngoan khác. Chúng ta cần tích cực cộng tác với những người con ngoan để chống lại ảnh hưởng tiêu cực của mấy đứa con hư nói trên.


     
 

More...

Thử Nhận Diện Con Người Việt Nam (Phần II)

By NGUYỄN THÁI THANH

                                                                                                         Nguyễn Thái Hợp

2. DƯỚI THỜI PHÁP THUỘC
Vào cuối thế kỉ XIX bộ máy cai trị của thực dân Pháp đã ổn định. Năm 1877 nghĩa quân của Mai Xuân Thưởng ở Bình Định- Phú Yên bị Trần Bá Lộc đánh tan tành. Tám năm sau 1895 Phan Đình Phùng bị bệnh lị và từ trần ở Hà Tĩnh. Nghĩa quân của ông số tuẫn tiết số chạy trốn ra nước ngoài số còn lại ra đầu thú để mong được an thân nhưng rồi cũng bị người Pháp giết gần hết. Hai năm sau ở Bãi Sậy tiếng súng đã im bặt và Nguyễn Thiện Thuật phải trốn sang Tầu. Cũng vào cuối năm đó Đề Thám tạm giảng hoà với Pháp để lập ấp ở gần Nhã Nam vào năm 1898.
Được rảnh tay với công việc bình định thuộc địa nhà cầm quyền Pháp bắt đầu khai thác và phát triển Việt Nam. Một mô hình xã hội mới đang được hình thành với những thay đổi rõ rệt về cơ cấu chính trị sinh hoạt thương mại tổ chức xã hội đường hướng giáo dục nếp sống lối nghĩ. Đường giao thông cơ sở hành chánh trường học bệnh viện và thị trấn thi nhau mọc lên. Đô thị chiếm vai trò chủ yếu trong mọi sinh hoạt chính trị kinh tế văn hoá xã hội. Văn hoá Tây phương và nếp sống mới bắt đầu lan toả thâm nhập ngay cả đàng sau luỹ tre làng và bên trong các gia đình.
Ngay cả nhà Nho yêu nước vào đầu thế kỉ XX như Phan Bội Châu nhất là Phan Chu Trinh Trần Cao Vân Huỳnh Thúc Kháng... cũng chấp nhận sự thấp kém và bế tắc của chế độ quân chủ chuyên chế theo ý thức hệ Nho giáo so với ưu thế của văn minh Tây phương. Thấm thía nỗi nhục của người dân mất nước họ kịch liệt lên án chế độ phong kiến của ta và ca ngợi chế độ dân chủ của người. Các tư tưởng dân chủ của các tác giả nước ngoài như J. J. Rousseau Voltaire Khang Hữu Vi Lương Khải Siêu được đề cao.
Thay vì giải pháp bạo động và vọng ngoại Phan Chu Trinh đề nghị phát động phong trào duy tân nhằm mục đích "chấn dân khí khai dân trí hậu dân sinh". Ngược với quan điểm của đại đa số nhà cách mạng lúc đó muốn cầu viện Nhật hay Tầu Phan Chu Trinh chủ trương "tự lựckhai hoá". Mấy dòng ngắn ngủi sau đây viết tại Côn đảo bộc lộ tâm huyết và chí hướng của ông: "Chưa có tư cách quốc dân độc lập dẫu có nhờ sức nước ngoài chỉ diễn cái trò "đổi chủ làm đầy tớ lần thứ hai" không ích gì (...). Mình không tự lập ai cũng là cừu địch của mình Triều Tiên. Đài Loan cái gương rõ ràng người Nhật chắc gì hơn người Pháp".
Phong trào Duy tân chủ trương Âu hoá theo mô hình Nhật Bản và coi đó như đường cứu quốc khả thi nhất. Yêu cầu bãi bỏ lối học từ chương và con đường khoa cử ngày xưa để mở học đường theo kiểu phương Tây. Họ đề nghị lập hiệu buôn và phát triển thương nghiệp và khuyên quốc dân theo lối sống mới: cắt tóc ngắn bỏ tục nhuôm răng mặc Âu phục...
Vào khoảng cuối thập niên 20 chế độ thuộc địa đã khai sinh lớp người mới theo Tây học và làm biến đổi xã hội nho phong cũng như thôn ấp ngày xưa. Trước hết việc khai thác kinh tế thuộc địa đã tạo ra một lớp doanh nhân bản xứ. Họ chính là lớp phú hào mới và hấp thụ nhanh chóng nếp sống Tây phương. Việc phát triển kinh tế khuyếch trương thương mại và mở mang hay kiến thiết đô thị tạo nên nhiều việc làm: công chức tiểu thương công nhân thủ công nghệ... Đông đảo quần chúng rời nông thôn để lên thành thị kiếm sống. Với thời gian họ trở thành dân thành phố với nếp sống nếp nghĩ và tâm lí khác hẳn với quần chúng tại nông thôn. Đặc biệt việc thay thế Hán học cổ truyền bằng chương trình Pháp đã tạo ra một lớp trí thức mới xuất thân từ trường Tây thông thạo ngôn ngữ hiểu rõ văn hoá tư tưởng và nếp sống phương Tây hơn các nhà Nho yêu nước trước đây.
Ba thành phần này có điểm gặp gỡ chung là sống gần người Pháp trong khung cảnh đô thị và đường lối sịnh hoạt do chính quyền thuộc địa tạo ra. Họ tiếp thu nhanh văn hoá phương Tây. Về kinh tế nếp sống của họ tiện nghi và thoải mái hơn dân quê chân lấm tay bùn. Về văn hoá đời sống thành thị văn minh cởi mở tự do và dân chủ hơn nếp sống u buồn sau luỹ tre xanh.
Từ khung cảnh văn hoá Tây phương và điều kiện sống mới ở thành thị giới trí thức trẻ gắt gao đả phá xã hội nho phong cũ và hăng hái truyền bá lối sống mới. Họ cương quyết loại trừ mô hình đại gia đình "tứ đại đồng đường" với chế độ gia trưởng với những bổn phận hiếu đễ tam tòng tứ đức. Theo họ những tục lệ cũ như cúng tế lễ bái kiêng kị huý nhật cha mẹ đặt đâu con ngồi đó... được coi là lạc hậu cần phá vỡ để giải thoát con người. Cần tôn trọng nhân phẩm hạnh phúc và quyền tự do lựa chọn của cá nhân trong hôn nhân.
Nhóm Tự Lực Văn Đoàn được thành lập với mục đích hô hào bỏ cũ theo mới. Văn đoàn triệt để chủ trương đổi mới và thẳng tay phá đổ tất cả những cái cũ cản trở bước tiến của họ. Trong cuộc chiến này văn đoàn sử dụng nhiều thứ khí giới khác nhau nhưng thứ khí giới lợi thế nhất vẫn là tiểu thuyết. Hai tác phẩm tiên phong là "Đoạn Tuyệt" của Nhất Linh và "Nửa Chừng Xuân" của Khái Hưng. Nhất Linh kịch liệt đả phá tất cả những tệ đoan hủ tục mê tín dị đoan... của xã hội cũ để sau đó xây dựng một nếp sống tiến bộ hơn. Rất tiếc là hình ảnh xã hội mới còn rất mơ hồ và mung lung ngay cả con đường cách mạng được giới thiệu qua nhân vật Dũng còn chưa có gì rõ nét.
Qua ngòi bút của Nguyễn Tường Long tức Hoàng Đạo được coi là nhà xã luận của nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã bắn thẳng vào Tam Giáo cổ truyền: Những lí tưởng của các cụ xưa không hợp với trình độ học thức của thiếu niên nữa. Nho giáo lung lay sắp đổ sắp sửa theo mấy nhà thâm nho còn sót lại mà tiêu diệt với thời gian. Còn đạo Lão đạo Phật chỉ đem lại cho thiếu niên những tư tưởng chán đời ta không thể nương tựa vào đấy mà sống còn được".
Tạp chí Phong hoáNgày nay cũng lớn tiếng đòi cải cách hương thôn. Nguyễn Tường Long viết về nếp sống nông thôn như sau: "Ta phải thay thế cái mớ lễ nghi cũ rích nó phân đẳng cấp xằng nó xướng lên một miếng giữa làng bằng một sàng trong xó bếp bằng một cái lễ nghi mới. Những điều lễ nghi mới ấy dạy cho dân quê rằng một người trong làng là một người công dân có đủ quyền tự do làm một người công dân dù là một bạch đinh hay một ông Lý ông Chánh quý hồ mình góp đủ sưu thuế theo đúng luật lệ là không ai ức hiếp được mình chớ không cần phải khoác cái chức nọ chức kia".
Đối với nền luân lý cũ Nguyễn Tường Long tuyên bố không úp mở: "Nền luân lý ấy bắt ta phải bái phục lời nói cổ nhân dầu lời nói sai cũng mặc không được đem lí luận ra mà bẻ bác. Cha mẹ đẻ ra ta thì những câu bảo ban ta phải cúi đầu vâng theo dù những câu ấy trái với tư tưởng của ta. Mà kể thực ra thì dưới chế độ đó ta chẳng còn có tư tưởng gì nữa mà ta là của gia đình. Chữ tự do cá nhân là một chữ từ xưa đến nay ta không biết nghĩa là gì. Ngày nay cái óc biết suy xét của ta bắt ta không nhắm mắt như xưa mà bắt ta đem lẽ phải lương tri ra mà suy nghĩ cứu cánh mọi sự ở đời".
Cũng chính Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long đã đưa ra "Mười điều tâm niệm" để kết hợp các phần tử trẻ tiến bộ hầu tạo một lực lượng cách mạng trong tiến trình đòi hỏi tự do và dân chủ: "Thanh niên nam nữ phải dứt khoát theo mới phải tin ở sự tiến bộ phải có lí tưởng dấn thân hành động phải bỏ óc vị kỉ để góp sức xây dựng xã hội phải cố gắng rèn luyện nghị lực và một thân thể cường tráng phải loại trừ mê tín dị đoan xây dựng tinh thần khoa học bài trừ thói cẩu thả học hỏi cách quản lí và tổ chức. Cuối cùng phải xem thường danh lợi nhỏ mọn của xã hội phong kiến và thực dân để lo xây dựng một sự nghiệp lớn lao cho ngày mai.
Những nhận xét của Hoàng Đạo khá sát với một thực tế xã hội đang bị chìm ngập dưới lớp bùn của Tống Nho thời đó. Một điều đáng tiếc là tác giả Mười điều tâm niệm chưa sáng suốt "gạn đục khơi trong" chắt lọc phần tinh hoa trong gia sản của dân tộc.
Cùng với phong trảo thể dục- thể thao phong trào thẩm mĩ và cải cách y phục nữ ra đời. Năm 1934 hoạ sĩ Nguyễn Cát Tường hô hào trên báo Phong Hoá: "Ngày xưa các cụ ăn mặc cốt để che khuất thân thể nên làm ra một bề ngoài lụng thụng bây giờ phải ăn mặc sao cho dáng điệu thân thể được tự nhiên phô bày. Hay có khi để chữa cái dáng điệu ấy được uyển chuyển thướt tha thêm". Trong bối cảnh đó chiếc áo dài Cát Tường xuất hiện và chẳng bao lâu lan tràn từ Hà Nội về các tỉnh từ Bắc vào Nam.
Nói chung giới trí thức Tây học đã ý thức về hạnh phúc cá nhân tự do kết hôn quyền bình đẳng nam nữ nhân cách tự lập sáng tạo trách nhiệm... Dĩ nhiên đây chỉ là một thiểu số tiểu tư sản rất ít ỏi sống ở thành thị. Đại đa số người Việt Nam vẫn cam chịu thân phận người dân bị trị nghèo khổ và lạc hậu. Vì điều kiện nghiệt ngã của lịch sử Việt Nam vào giai đoạn đó mô hình "người trí thức tự do" vừa ló dạng và chưa kịp phát triển đã bị đi vào quên lãng. Nó chỉ để lại một số dấu ấn mờ nhạt ở thành thị và chưa có ảnh hưởng quan trọng nào trên nếp sống cũng như lối nghĩ thâm căn cố đế ở nông thôn.
Về phương diện kinh tế Việt Nam lúc đó mới chập chững bắt đầu phát triển và bị chi phối nặng nề bởi chế độ thuộc địa. Trên tổng thể Việt Nam lúc đó vẫn là một nước nghèo chậm tiến và bị đô hộ. Nhưng đó là tình trạng chung của các nước Đông Nam Á nên sự khác biệt giữa Việt Nam với các nước láng giềng hầu như không có. Bảng đối chiếu sau đây của tiến sĩ Lê Đăng Doanh nguyên viện trưởng nghiên cứu quản lí kinh tế Trung ương cho chúng ta một ý niệm: "Nếu lấy mốc tính là năm 1950 thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam bằng 80.5% của Thái Lan thì năm 1999 chúng ta chỉ còn bằng 20%. So với Hàn Quốc thì năm 1950 ta bằng 85 5% tức Hàn Quốc với Việt Nam lúc bấy giờ cũng đói như nhau còn bây giờ ta chỉ còn bằng khoảng độ 11 12% Hàn Quốc. Lúc bấy giờ ta giầu có hơn Trung Quốc Trung Quốc lúc bấy giờ đói khổ hơn ta. Ta bây giờ thu nhập bình quân đầu người bằng khoảng 20% Trung Quốc mà thôi". Các con số trên đây cho thấy các nước láng giềng đã phát triển mạnh trong mấy thập niên vừa qua còn Việt Nam đã dậm chân tại chỗ hay tiến quá chậm. Kết quả hiển nhiên là sau 50 năm khoảng cách giữa họ và ta thay vì thu hẹp lại đã nới rộng thêm.

3. ẢNH HƯỞNG THỜI BAO CẤP
Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 đã tạo nên một sự thay đổi lớn lao và triệt để trong mọi lãnh vực chính trị kinh tế văn hoá xã hội... Chính quyền cách mạng được thành lập để thay thế cơ cấu chính trị cũ. Hiến pháp mới được ban hành nhiều đoàn thể cách mạng ra đời. Vai trò của Nhà nước và xã hội được đề cao trong khi vị trí của gia đình trong cuộc sống toàn xã hội bị giảm nhẹ và thu hẹp. Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa xây dựng trên cơ sở cộng đồng xã hội coi cá nhân chỉ tồn tại trong xã hội cộng đồng xã hội bằng hành động tập thể bằng nhà nước tập quyền hành động theo kế hoạch không gián đoạn để thực hiện một lí tưởng chung đã vạch sẵn là chủ nghĩa Cộng sản để đem lại tự do hạnh phúc cho mọi người".
Con người xã hội chủ nghĩa chủ yếu sống với xã hội và sống cho đoàn thể chứ không phải sống trong gia đình. Hậu quả tất nhiên là con người có thói quen hành xử như một thành viên của tổ chức một bộ phận phụ thuộc và phục vụ đoàn thể thay vì là một nhân vị tự tại tự lập có trách nhiệm và sáng tạo.
Trong giai đoạn đó tất cả các tổ chức làng xã và quan hệ họ hàng được vận dụng tối đa để phục vụ kháng chiến. Có những lúc phải triệt để "tiêu thổ kháng chiến" và di tản tản tất cả về nông thôn. Dần dần đi đến chỗ nông thôn hoá đô thị trường học và cả nếp sống. Nền kinh tế căn bẳn vẫn là nông nghiệp. Cơ cấu tổ chức khép kín và hình thức gia đình cũng rất đơn điệu. Theo giáo sư Trần Đình Hượi trong thời bao cấp chủ yếu có hai loại gia đình tiêu biểu: gia đình xã viên và gia đình cán bộ.

a)- Gia đình xã viên: Vì nông thôn đã hợp tác hoá nên mọi người phải gia nhập hợp tác xã và trâu bò nông cụ cũng tập trung ở hợp tác. Gìơ lao động theo kế hoạch và sản xuất theo hợp tác: làm chung và chia sản phẩm theo công điểm lao động.
Mô hình sản xuất này đã xoá bỏ được sự phân chia cố hữu giữa các loại gia đình địa chủ phú nông trung nông hay bần cố nông. Trên nguyên tắc tất cả các xã viên sống giống nhau nhưng thực tế lại nẩy sinh sự khác biệt sâu xa giữa cán bộ và xã viên. So với trước điều kiện sống của các gia đình xã viên khá hơn gia đình bần cố nông nhưng vẫn chưa bằng gia đình trung nông ngày xưa mặc dù làm ăn tất bật ít thoải mái và thiếu ấm cúng hơn. Môi trường mới tạo điều kiện để phát triển gia đình hạt nhân nhưng thanh niên thoát li đi bộ đội làm công nhân làm cán bộ. đi học... chưa đủ khả năng để sống tự lập nên trên thực tế vẫn phổ biến gia đình nhiều thế hệ. "Những đứa trẻ phần lớn vắng mặt cha mẹ ở với ông bà cũng được thả rông phó mặc cho xã hội. Khi lớn lên chúng đã chán cuộc sống nông thôn nếu không thoát li được thì ngả sang buôn bán để được đi đây đi đó từ đó đâm ra đua đòi sống bừa bãi làm ăn phi pháp... Việc làm suy yếu gia đình và kinh tế gia đình việc ào ạt đưa thanh niên vào biên chế làm việc nhà nước đã làm cho nông thôn xơ xác tiêu điều. Và hơn thế nữa đã làm cơ sở xã hội rệu rã mất ổn định làm phát sinh nhiều tiêu cực trong đời sống ở cả nông thôn lẫn ở thành thị".
Về mặt tổ chức " chính quyền và hợp tác quản lí hộ khẩu. quản lí lao động không để làm ăn riêng lẻ và chạy ngoài. Việc đi lại khỏi làng: nhập ngũ đi học nghề làm công nhân hay viên chức phụ thuộc khá nhiều vào ý kiến nhận xét của xã. Người nông dân gắn chặt với xã đóng kín chỉ có môi trường xã hội ở xã khó năng động linh hoạt trong việc kiếm sống và cũng trở lại tìm chỗ dựa ở quan hệ họ hàng". Vô hình trung đã nẩy sinh một thứ "luỹ tre làng mới" với "hương ước" và "tập tục" riêng nhưng tựu trung vẫn trói buộc con người một cách khắt khe và nghiệt ngã như hay nhiều khi còn hơn "luỹ tre làng cũ".

b)- Gia đình cán bộ: Đây là gia điình của những viên chức làm công tác Nhà nước Đảng hay Đoàn thể và sống bằng lương tháng. Vì chế độ lương bổng thấp và bình quân nên đời sống của công nhân công chức sĩ quan trí thức ít cách biệt nhau và tất cả đều chật vật. Gia đình cán bộ chủ yếu tập trung ở đô thị nhưng vì đồng lương thấp nên phải làm thêm: nuôi lợn nuôi gà may vá nhận làm đồ gia công. Xuất hiện một thứ gia đình nửa quê nửa tỉnh.
Vì hậu quả khốc hại của chiến tranh do những khuyến khiếm của chế độ bao cấp nhất là do chủ trương xây dựng nhà nước đoàn thể mà coi nhẹ gia đình nên gia đình rệu rã lộn xộn chưa có nề nếp mới chưa thành tổ ấm. "Ở thành phố có rất nhiều vợ chồng là cán bộ ăn lương tháng còn con cái được phụ cấp ăn theo cả gia đình dựa dẫm trông đợi nền kinh tế bao cấp của nhà nước. Công việc gia đình thành việc phụ làm tranh thủ làm cho nhanh để còn nghỉ ngơi còn đi làm (...). Gia đình thành một thứ nhà tập thể tạm trú lỏng lẻo. Chịu hậu quả nặng nề của tình trạng lỏng lẻo đó là trẻ con. Phần thì do cha mẹ đều bận việc xã hội về đến nhà đã mệt phờ pjần thì do quan niệm tôn trọng tự do hạnh phúc "cho con được sướng hơn mình" nhiều gia đình thả lỏng chiều chuộng bỏ mặc con cái cho nhà trường và đoàn thể. Bố mẹ đi làm người thì nhốt con lại người thì đuổi con đi chơi để khoá cửa. Cả hai cách đều đẩy trẻ con đến chỗ ghét gia đình thích la cà lang thang ngoài đường phố mà đường phố thì có nhiều cái lôi kéo trẻ con vào con đường hư hỏng".
Đứng trên phương diện ý thức hệ mô hình "người cán bộ cách mạng" xuất hiện và trở thành mẫu người lí tưởng thay thế cho mô hình nhân cách "người quân tử" của Nho giáo và mô hình "người trí thức tự do" dưới thời Pháp thuộc. Qua vận động quần chúng giành chính quyền lập chính quyền cách mạng kháng chiến xây dựng chủ nghĩa xã hội mô hình người cán bộ cách mạng hoàn chỉnh dần. Mô hình đó phủ định những mô hình có từ trước và cụ thể hoá trong quan niệm về người đảng viên anh bộ đội Cụ Hồ người phụ nữ mới ... Phải nói rằng những nhân vật đó không khác nhau nhiều mà chỉ là hình thức cụ thể của "người cán bộ cách mạng".
Đức tính căn bản của người cán bộ cách mạng là tính giai cấp đấu tranh chống áp bức bóc lột căm thù đế quốc thực dân loại trừ phong kiến tuyệt đối tin tưởng ở Đảng và có tinh thần cách mạng. Các giá trị đạo đức và các đức tính nhân bản bị giảm giá hay đặt xuống hàng thứ yếu. Cũng chẳng còn chủ ý rèn luyện tinh thần trách nhiệm khát vọng dân chủ tính tự lập lòng tự trọng và tôn trọng kẻ khác. Kết quả là người cán bộ cách mạng trở thành con người "đơn nhất đồng loạt lấy cái bất biến là yêu nước giác ngộ cách mạng ham lao động có văn hoá sẵn sàng phục tùng sự sắp xếp của tổ chức để ứng vạn biến".
Nhiều người lấy làm tiếc là đáng lẽ ra phải dồn tất cả năng lực để hiện đại hoá nông thôn và cải tạo con người tiểu kỉ thì dưới thời bao cấp người ta lại nông thôn hoá đô thị và đề cao quá đáng tính cách của con người nông dân tiểu kỉ như cam phận hèn mọn tính toán ích kỉ sự phục tùng tuyệt đối thái độ khôn ngoan vụn vặt. Hậu quả của nó là đã tái sinh nhiều mê tín dị đoan cũ và dẫn đến một thứ chủ nghĩa xã hội của nông dân công xã. "Nếu chủ nghĩa xã hội hiểu là sở hữu công cộng với chính quyền chuyên chính vô sản chỉ huy cả kinh tế sắp xếp cả công việc làm ăn cho từng người lo chuyện tương cà mắm muối và xây dựng bằng cách xác lập quan hệ sản xuất đã dẫn đến quan liêu bao cấp đến trói buộc cả xã hội thì làng- họ với nền sản xuất nông nghiệp tự túc và cống nạp với tính cộng đồng tính đóng kín của nó cũng dẫn đến cách hiểu chủ nghĩa xã hội "trại lính" với bệnh viện địa phương nạn phe phái tệ cường hào".
Dưới cái nhìn của nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh những cái gì đang trở thành nhược điểm của người Việt Nam hiện nay chủ yếu được hình thành trong thế kỉ 20 này. "Ở miền Bắc hình thành cơ chế quan liêu bao cấp- không có cơ chế đó chúng ta không thắng Mĩ được. Nhưng bao cấp nhất là bao cấp kéo dài sau năm 1975 làm nẩy sinh hai đứa con tệ hại là thói đạo đức giả và thói vô trách nhiệm".
Chủ nghĩa xã hội đã đưa ra những ý tưởng cao vời nhằm đạt tới sự giải phóng con người khỏi mọi hình thức áp bức và vong thân tạo điều kiện để mỗi người thực hiện chính mình. Theo lí thuyết đây là một tiến trình cách mạng và phát triển kinh tế- xã hội ở mức cao. Vì thế khó lòng thực hiện được mô hình lí tưởng này ở những nơi người dân còn nghèo về tri thức và vật chất như nước ta trước đây. Tuy nhiên do sức ép của chế độ và thái độ duy ý chí người ta đã gồng mình đốt giai đoạn và nhất quyết thi đua đạt thành tích.
Trên thực tế xã hội chủ nghĩa đó mang tính cách "hữu danh vô thực". Thời đó khi ở nơi công cộng hầu như mọi người phải làm ra vẻ mình là người tiến bộ phải lặp lại như vẹt tính ưu việt của lí tưởng xã hội chủ nghĩa và xác quyết tính khả thi của nó nhưng trong chốn riêng tư lại nghĩ khác hẳn. Có một khoảng cách sâu thẳm giữa thực tại và khẩu hiệu giữa việc làm và lời nói giữa con người thật và con người xuất hiện trước đám đông. Hố phân cách thê thảm này nhiều khi chỉ được lấp đầy bằng những lời tuyên ngôn đẹp đẽ khẩu hiệu choáng ngợp và những lời nói dối hoa mĩ. Báo "Ong Đất của Bungari đã diễn tả giai đoạn đặc biệt này một cách sâu sác và hóm hỉnh qua sáu nghịch lí điển hình sau đây:
- Ai cũng có việc làm nhưng không ai làm việc
- Ai cũng không làm việc nhưng ai cũng có lương
- Ai cũng có lương nhưng không ai sống đủ
- Ai cũng không sống đủ nhưng ai cũng sống
- Ai cũng sống. nhưng không ai hài lòng
- Ai cũng không hài lòng nhưng ai cũng giơ tay "đồng ý".
Vì quá đề cao xã hội tính và tập thể tính của con người đến độ lãng quên hay tệ hơn nữa phủ nhận nét độc đáo của mỗi nhân vị chế độ bao cấp đã đi đến chỗ đoàn ngũ hoá và đoàn ngũ hoá con người bằng các đoàn thể phong trào những cuộc thi đua bình bầu xếp hạng khen thưởng đạt thành tích... ba giảm bốn quyết tâm năm thi đua v. v... Mô hình này đã đúc khuôn và nhào nặn nên nhiều "chiến sĩ thi đua" nhiều "anh hùng lao động"... đáp ứng cho đòi hỏi của phong trào thi đua tập thể. Họ được dựng lên từ những phong trào thi đua và chỉ tìm được niềm hăng say phấn khởi trong bầu không khí thi đua chạy theo thành tích chạy theo đám đông và tìm cách khẳng định mình bằng những thành tích được khen thưởng.
Môi trường này ít tạo nên những con người có nội lực có bản lãnh và tìm cách khẳng định mình bằng những giá trị đạo đức: sống chân thành với lương tâm không chấp nhận tính đoàn lũ không nịnh bợ luồn cúi... Đây là những con người có nội lực biết tìm thấy niềm tự hào khi thể hiện được giá trị nhân sinh trong đời thường hay cố gắng liêm chính vì lí tưởng đạo đức chứ không vì chạy theo thành tích. Cố gắng trở nên tốt trong hành vi tốt và cái tốt này gắn liền với chính bản chất con người chứ không phải để đạt thành tích thi đua.
Ngay từ thập niên 60 một vài thức giả đã cảm nhận được sự bế tắc của mô hình này. Nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi là một ví dụ. Nhân dịp kỉ niệm 10 năm từ trần của Từ Chi nhà nghiên cứu Huệ Chi đã kể lại một nhận định sắc bén của người anh họ mà gần như chưa ai đề cập đến: "Ông (Nguyễn Từ Chi) là một người sớm nhạy cảm với những bế tắc của con đường nghiên cứu khoa học xã hội chính thống ở Việt Nam. Sự nhạy cảm này bắt nguồn từ một năng khiếu cũng khá đặc biệt ấy là nhận thức tỉnh táo của ông về mọi chuyển động âm thầm của thời cuộc hay đúng hơn là một nhãn quan minh mẫn về chính trị. Kể từ năm 1963 sau hai năm làm chuyên gia giáo dục và mải mê điền dã dân tộc học ở Guinée và một số nước trên hai bờ con sông Niger của châu Phi trên đường trở về ghé qua Moskova khoảng một tuần lễ khi gặp lại người thân ông đã có một nhận xét khiến nhiều người trong gia đình sửng sốt: "Mô hình xã hội chủ nghĩa xem ra không ổn rồi vì nó sans humanifé (không người).

(Entry sau: Phần cuối THỜI TRANH TỐI TRANH SÁNG)

More...

Thử Nhận Diện Con Người Việt Nam (Phần I)

By NGUYỄN THÁI THANH

                                                                                                         Nguyễn Thái Hợp

M
ột trong những câu hỏi nền tảng được nhiều người nêu lên và hầu như chưa ai tìm ra lời giải thoả đáng: Tại sao một dân tộc có truyền thống đoàn kết chống ngoại xâm lại rất khó hợp tác với nhau để thực hiện mục tiêu dân giầu nước mạnh? Tại sao một dân tộc đã anh dũng đánh bại tất cả những mưu đồ xâm lược đến từ bên ngoài nhưng xem ra lại quá nhẫn nhục trong thời bình và hơn nữa bước đi quá khó nhọc trên con đường công nghiệp hoá? Tính cách nào mang lại cho dân tộc Việt Nam một sức sống mãnh liệt đến thế để vẫn tồn tại vẫn chiến đấu và chiến thắng qua mọi cuộc xâm lăng bạo tàn?... Nhưng tính cách nào đã có đang có "trong ta" để trở thành một lực cản một sự níu kéo làm ta bước khó khăn hơn trên con đường hiện đại hoá và công nghiệp hoá đất nước? Làm sao tạo ra trong xã hội một lối tư duy sáng tạo một kiểu nghĩ nhất quán dài hơi chứ không chắp vá "ăn xổi ở thì"?
Trong "Cơ hội của Thánh Gióng" tiến sĩ Vũ Minh Khương cũng thẳng thắn nói lên nỗi bức xúc của mình trước hiện tình của đát nước. Trả lời những câu hỏi của phóng viên báo Tuổi Trẻ về nguyên nhân của những tiêu cực trong xã hội ta và đâu là Thánh Gióng hôm nay ông nói: "Theo tôi trước hết chúng ta phải nhìn thẳng vào mình và phải biết xấu hổ nếu cần. Ta hãy tự hỏi: tại sao một dân tộc giầu nhân văn yêu cái đẹp như vậy mà tỉ lệ người bị HIV nghiện ma tuý lại cao hơn Trung Quốc Hàn Quốc Nhật Bản...? Tại sao người Việt vốn trọng tín nghĩa mà nay lại bị xếp hạng nạn tham nhũng cao nhất nhì Đông Á? Giới trẻ ngày nay sao không có Trần Quốc Toản Lê Hồng Phong Kim Đồng...? Tại sao trong các cán bộ nhà nước không còn ai nói: bệ hạ muốn hàng xin hãy chém đầu thần trước?
Chúng ta từng làm nên Điện Biên Phủ mùa xuân đại thắng năm 1975 vậy mà 30 năm qua hoà bình độc lập ta làm được gì để không hổ thẹn với cha ông? Chúng ta hoan hỉ về xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới là đúng. Nhưng hãy nhớ rằng cha ông chúng ta đã từng đạt được danh hiệu này từ hàng thế kỉ trước. Trong tình huống nào đó ta phải chấp nhận tạm thời nhưng đừng quá vui vẻ về các chỉ số xuất khẩu lao động. Hãy luôn canh cánh về thể diện quốc gia tự hào dân tộc".
Những dòng dưới đây không phải là những câu trả lời thoả đáng cho những câu hỏi hóc búa ở trên. Đây chỉ là đôi nét phác thảo để nhận diện con người Việt Nam qua những giai đoạn thăng trầm của lịch sử với hi vọng hiểu thêm đôi chút về con người Việt Nam hôm nay.


1- MẪU NGƯỜI CỦA NHO GIÁO
Suốt dọc nhiều thế kỉ dưới chế độ quân chủ theo ý thức hệ Nho giáo quyền lãnh đạo đất nước được đặt vào tay vua chúa quan quyền. Ngoài giới thượng lưu đó xã hội Việt Nam thời xưa được chia thành bốn giai tầng: sĩ nông công thương. Trên thực tế hai nhân vật chính của một nước nông nghiệp theo ý thức hệ Nho giáo vẫn là nhà Nho và nhà nông. Thật vậy thủ công nghệ và thương nghiệp chưa có vai trò quan trọng trong xã hội hơn nữa còn bị đánh giá thấp nhất là đối với người buôn bán.
Giới sĩ phu trái lại được triều đình ưu đãi và nhân dân kính trọng. Tuy họ chưa thuộc thành phần quan lại nên chưa được hưởng bổng lộc vua ban nhưng giới sĩ phu cũng được Triều đình miễn tô thuế và miễn lao dịch. Trong làng xã nhà nho có một thế lực tinh thần và đóng một vai trò đặc biệt. Họ sống dựa vào danh vị và uy tín được dân làng và họ hàng vị nể trọng vọng biếu xén giúp đỡ.
Nhà nông chiếm đại đa số dân chúng và và là lực lượng sản xuất nền tảng của quốc gia. Vì ruộng đất ít và phương tiện canh tác thô sơ nên nông dân Việt Nam vừa thất học vừa thiếu ăn thiếu mặc nhà cửa rách nát. Nhưng chính họ lại là lực lượng sản xuất và đóng góp kinh tế chủ yếu cho Nhà nước. Hàng năm họ phải nộp thuế bằng thóc bằng tiền và bằng cả lao dịch (đi phu đi xâu).
Vì điều kiện cụ thể của sinh hoạt nông nghiệp lệ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên nhà nông Việt Nam gắn bó mật thiết với thiên nhên và luôn hướng tới nếp sống hài hoà nhưng có phần thiên về âm tính: lấy tĩnh làm gốc cái vô hình trên cái hữu hình tình nặng hơn lí xu thế ổn định nổi trội hơn xu thế phát triển. Khuynh hướng hài hoà nặng âm tính này biểu hiện rõ rệt qua lối sống tình cảm mềm dẻo kín đáo tế nhị linh hoạt du di xuề xoà tương đối "chín bỏ làm mười".
Sinh hoạt nông nghiệp đặc biệt nghề trồng lúa nước với đặc tính thời vụ cao đòi hỏi phải dựa vào nhau để sống. Chính vì vậy tính cộng đồng tinh thần tương thân tương trợ và tổ chức phường hội giáp thôn làng xã luôn được đặt nổi. Ngoài ra mỗi gia đình riêng lẻ cũng không đủ khả năng để đối phó một cách hữu hiệu với những bất trắc của môi trường tự nhiên như thiên tai hay lụt lội và điều kiện xã hội như nạn trộm cướp chẳng hạn. Do đó không phải ngẫu nhiên mà ở Việt Nam tổ chức nông thôn như huyết thống thường được đặt căn bản trên yếu tố gia tộc. Các khái niệm truyền thống như "cửu tộc" (chín đời) "tộc trưởng" (trưởng họ); "từ đường" (nhà thờ họ) "gia phả"; "ruộng kị"; "giỗ họ": "giỗ tổ"... đều liên quan đến gia tộc chứ không phải gia đình.
Ca dao Việt Nam diễn tả thật sắc nét vai trò của gia tộc với khả năng yêu thương cưu mang và đùm bọc nhau: "Con người có tổ có tông. Như cây có cội như sông có nguồn". Hay "con có mẹ như măng ấp bẹ". Trái lại "con không cha như nhà không nóc". Trong mọi trường hợp chắc chắn "máu loãng còn hơn nước lã".
Trong hệ thống đại gia tộc của Việt Nam "chú là cha" và "anh em như thể tay chân rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần". Nhờ vậy dù có sa cơ thất thế thế nào đi chăng nữa con người cũng không cảm thấy bơ vơ côi cút vì "sẩy cha còn chú sẩy mẹ bú dì". Gia tộc không những hỗ trợ về vật chất mà còn là điểm tựa về tinh thần và xã hội. Người xưa thường nói: "Nó lú nhưng chú nó khôn" và vẫn đinh ninh rằng "một người làm quan cả họ được nhờ".
Theo truyền thống tổ chức gia tộc là quan hệ theo hàng dọc có tôn ti trật tự có cấp bậc trên dưới với vai trò rõ rệt của tộc trưởng và gia trưởng. Mệnh lệnh và kiến thức thường cũng được truyền đạt theo tương quan chiều dọc từ trên xuống. Ngoài họ nội còn có họ ngoại họ đàng vợ đàng mẹ đàng bà. Mỗi người đều nằm trong một mạng lưới rộng lớn và phức tạp về họ hàng. Giữa những người thân thuộc nội cũng như ngoại không những có liên hệ tình cảm mà còn có trách nhiệm liên đới với nhau.
Nếu qui tắc xử thế của Tây phương là luật pháp khách quan rõ rệt nhưng cứng ngắc thì qui tắc sử sự ở Việt Nam ngày xưa là tục lệ. Truyền thống thiên về tình cảm của người dân Việt đã làm "mềm đi" tính cứng ngắc của luật pháp bằng những tục lệ của làng xã. Vua được coi là Con Trời (Thiên tử) nắm trọn quyền sinh sát trong tay. Nhưng trong thực tại cuộc sống có những lúc "phép vua thua lệ làng". Nhiều làng giống như một hòn đảo biệt lập chung quanh có luỹ tre và ao hồ bao bọc. Sau luỹ tre và cổng làng là một cuộc sống riêng biệt và đóng kín đến độ nhiều khi mỗi làng trở thành một thế giới riêng với hương ước tục lệ nếp sống tinh thần và ngay cả điều kiện vật chất.
Nho giáo chủ trương dùng đức để trị dân nên phải giao phó công việc trị nước trong tay những người có đức có tài. Lớp người này nhà Nho gọi là quân tử. Theo nguyên nghĩa chữ quân tử lúc đầu được sử dụng để diễn tả địa vị của tầng lớ sĩ phu vua quan đối lập với đám tiểu nhân là tầng lớp nông dân và thợ thuyền. Vì thế quân tử thì tốt đẹp cao quý còn tiểu nhân chỉ là bọn "phàm phu tục tử thất học đê tiện thấp hèn lỗ mãng vô lễ nhỏ nhen đáng khinh bỉ. Thành ra sự so sánh rõ rệt trắng đen: quân tử thượng đạt tiểu nhân hạ đạt (quân tử đạt về cái lý cao minh tiểu nhân đạt về cái lý đê tiện); quân tử cầu chư kỷ tiểu nhân cầu chư nhân (quân tử cầu ở mình tiểu nhân cầu ở người); quân tử hoà nhi bất đồng tiểu nhân đồng nhi bất hoà.
Bên cạnh nghĩa nguyên thuỷ đó còn hai ý nghĩa chính nữa theo đó "quân tử" thuần tuý ám chỉ tư cách hoặc vừa địa vị vừa tư cách. Do đó theo Khổng Tử quân tử phải là người có đức nhân hiểu rõ điều nghĩa (quân tử dụ ư nghĩa) giữ vững khí tiết trong hoàn cảnh bần cùng (quân tử cố cùng) trọng trung tín (quân tử ... chủ trung tín) thận trọng trong lời nói mà hăng hái trong việc làm biết thì nói là biết không biết thì chịu là không biết (tri chi vi tri chi bất tri vi bất tri thị tri dã) quân tử truy tầm đạo không lo nghèo (quân tử ưu đạo bất ưu bần).
Dưới ý thức hệ Nho giáo và trong môi trường cụ thể "làng - họ" con người Việt Nam ngày xưa chỉ là một bộ phận phụ thuộc và hoàn toàn lệ thuộc vào tập thể. Cho đến cuối thế kỉ XIX tại Việt Namchưa xuất hiện mô hình nhân cách và nhân vị của con người độc lập tự do tự tại với nếp sống và nếp nghĩ riêng. Con người Việt Nam lúc ấy là "con người của gia đình của họ hàng của làng nước. Bản thân họ không có gì là của mình: thân thể là của cha mẹ cho phận vị là của vua cho số mệnh là của Trời cho. Họ có được cái gì cũng là nhờ ơn vua ơn Trời. Gía trị của nó được tính theo chỗ nó là con ai thuộc họ nào làng nào có chức sắc gì chứ không theo chỗ bản thân nó là gì. Trong xã hội tất cả là thần dân của vua đều được xếp vào bậc thang tước vị rồi lại chia thành hạng cha chú hay con cháu. Con người phải nhìn xuống nhìn lên trong cái thang trật tự trên dưới đó tự xác định vị trí của mình mà ăn mặc nói năng đi đứng cho phải phép. Đó là con người chức năng trong xã hội luân thường chứ không có nhân cách độc lập"
Thân phận người phụ nữ còn bi đát và thê thảm hơn vì suốt đời bị trói buộc bởi "tam tòng": khi còn sống trong gia đình phục tùng cha khi lấy chồng phục tùng chồng chồng chết phải theo con nghĩa là không được bước thêm bước nữa. Rút cục suốt đời phải quên hạnh phúc riêng tư và chính bản thân để tận tụy lo lắng hi sinh cho chồng con. Hầu như những phụ nữ ấy không thể nghĩ đến chuyện phát triển bản thân mà phải tận lực cho giang sơn nhà chồng để rồi suốt đời luẩn quẩn bên cái cối xay sau luỹ tre làng
Hẳn chúng ta chưa quên câu nói được người xưa lặp đi lặp lại như một điệp khúc từ đời nọ sang đời kia: "Nhất nam viết hữu thập nữ viết vô" (một trai kể là có mười gái vẫn kể là không). Lý do sâu xa của việc đối xử phân biệt này nằm ở quan điểm Khổng Mạnh về việc nối dõi tông đường nghĩa là triệt để đặt lợi ích của gia đình và dòng họ trên quyền lợi của con người cụ thể. Do đó trong ba tội bất hiếu tội lớn nhất vẫn là không có con trai để nối dõi tông đường (bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại). Mẫu hình gia đình xây dựng theo tư tưởng Nho giáo là gia đình nề nếp. Trong gia đình này mỗi thành viên đều biết và cố gắng thi hành cặn kẽ nhiệm vụ lễ tiết và vị thế của mình. Giáo dục giữ một vai trò rất quan trọng và là trách vụ đặc biệt của người gia trưởng. Nguyên tắc nam tôn nữ ti chồng chính vợ tuỳ con cái phải có hiếu anh em hoà thuận...là nguyên tắc căn bản. Riêng người con gái phải gắn liền với "tam tòng tứ đức". Nhưng trong thực tế ở những gia đình nề nếp không ai vì nguyên tắc nam tôn nữ ti mà khinh thường người phụ nữ trái lại chồng luôn tôn trọng và nể vợ. Khổng giáo quy định đôi vợ chồng phải "tương kính như tân". Và cha mẹ dù tin yêu con ruột mình hơn vẫn giao việc nhà cho con dâu nghĩa là tôn trọng chức năng người chủ phụ.
Sau khi phân tích hai mẫu người cổ điển giáo sư Trần Đình Hượi còn thêm một mẫu người thứ ba: "bên cạnh mô hình người quân tử ta còn có một mô hình khác cũng là người nông dân nhưng không phải nhìn theo cách nhà Nho mà tổng hợp từ thực tế cuộc sống của nền kinh tế cống nạp và tự túc của đời sống gia đình làng họ của trật tự trên dưới vua quan với dân cha chú với con em...". Ông gọi rất đúng" con người đó là "tiểu kỉ"- cái tôi bé nhỏ- cam chịu thân phận hèn mọn bị động nhờ ân huệ vun quén xà xẻo khôn khéo lẩn tránh... Con người đó cũng có quan niệm thế giới của họ ý thức về bản thân và lựa chọn cho mình cả lí tưởng cả cách ứng xử cách đánh giá lợi hại khôn dại..."
Dĩ nhiên "con người tiểu kỉ" này có lí do và vai trò của nó trong một số hoàn cảnh nhất định nào đó. Phải chăng đây là một hình thức tự vệ cần thiết giúp người nông dân bảo toàn sinh mạng trong những giai đoạn lịch sử khắc nghiệt? Tuy nhiên hôm nay khi đất nước đang nỗ lực đi vào dòng chẩy chung của nhân loại thì "con người tiểu kỉ" nói trên lại trở thành lực cản. Não trạng khép kín luồn cúi khúm lúm an phận phụ thuộc manh mún tiểu xảo rình được một cơ hội nào đó thuận tiện thì tìm cách xoay sở vun quén chút ít cho cái tôi nhỏ bé đang làm thui chột óc sáng tạo tính khách quan tinh thần tự lập tự chủ của mô hình nhân cách mới.


(Entry sau: Phần II DƯỚI THỜI PHÁP THUỘC & THỜI BAO CẤP)

More...