Những Biểu Tượng Và Ý Nghĩa Mùa Phục Sinh

By NGUYỄN THÁI THANH

Nguồn gốc Lễ Phục sinh

Theo phong tục và dân tộc tính ở các nước Trung Âu châu (Đức Pháp Áo Hòa Lan Bỉ Lúc Xăm Bua Thụy Sĩ Tây Ban Nha.. ) sau mùa đông giá lạnh xuân về có ánh nắng mặt trời ấm áp làm đời sống vui tươi hơn. Mùa Phục sinh bắt đầu vào ngày rằm tháng đầu của mùa xuân.

Lễ Phục sinh bắt nguồn từ ngày Chuá Jesus bị đóng đinh trên Thập tự giá giá và sống lại biểu tượng cho sự sống và sự phì nhiêu phong phú. Thời xa xưa người ta gọi lễ hội mùa xuân (Frühlingsfest / spring festival) hay "Ostarum" người Đức gọi là "Ostara" và danh từ "Ostern/ Easter" nguồn gốc từ chữ "Ost/ East" hướng về phương đông mùa xuân mặt trời sắp lên người Do Thái gọi ngày lễ này là "Paschafest" Người Ai Cập (Ägypter) gọi là "Osterlamm/ paschal lamb)" cũng nhằm ngày rằm đầu tiên mùa xuân họ giết cừu ăn mừng được giải phóng khỏi sự đàn áp thoát khỏi thân phận nô lệ.

Hội nghị về Tôn giáo ở Niazäa năm 325 công nhận lễ hội mùa xuân là ngày Lễ Phục sinh sau khi Chúa sống lại cho đến năm 1094 Oster Fest vui chơi 4 ngày rồi sau đó 3 ngày nhưng đến nay chỉ còn lại 2 ngày.

Lửa Phục sinh

Người ở vùng quê sống đời nông nghiệp vui mừng mùa đông giá lạnh đi qua xuân đến bắt đầu gieo trồng rồi gặt hái nguồn gốc lửa phục sinh ngày xưa được đốt lên từ những cánh đồng trong đêm đầu tiên phục sinh từ đó sẽ thắp lên ánh nến phục sinh. Ngọn lửa sưởi ấm mùa đông dài lạnh lẽo vì thời xa xưa không đủ tiện nghi như ngày nay có lò sưởi điện.. Người Ai Cập từng tôn thờ thần mặt trời xem ánh lửa như thần thiêng. Miền bắc Na Uy không có mặt trời mặt trời tái xuất hiện vào cuối tháng giêng khoảng 4 phút học sinh ở Trombo nghỉ học một ngày để chào mừng ánh mặt trời ngược lại mùa hè đêm 23 tháng 7 thì mặt trời không hề lặn không có mặt trời thì trên trái đất nầy sẽ không có sự sống vì thế ánh lửa phục sinh cũng là nguồn sống của con người lửa phục sinh tượng trưng cho ánh sáng mới mà Chúa đã mang đến cho con người. Từ năm 750 ở Pháp đã có phong tục đốt lửa phục sinh. Đến thế kỷ thứ 11 ở Đức đã dùng ánh lửa như một sự dâng hiến trong các nghi lễ về Tôn giáo.

Nến Phục sinh

Cơ Đốc giáo từ xa xưa đã sử dụng nến đốt sáng trên bàn thờ. Năm 384 lần đầu tiên ở Piacenca thánh Hieronymus (347- 419) viết trong thư Tôn đồ về ý nghiã biểu tượng của nến phục sinh là sự sống đến năm 417 Giáo Hoàng Zosimus cùng công nhận biểu tượng đó là sự chết và sống lại của Chúa Jesus. Từ thế kỷ thứ 7 Giáo hội La Mã công nhận và sử dụng nến phục sinh cho đến thế kỷ thứ 10 được hầu khắp các quốc gia theo Cơ Đốc giáo sử dụng cho đến thế giới ngày nay .

Nến Phục sinh được đốt lên từ đống lửa trước nhà thờ trong đêm Phục sinh được thánh hóa theo phong tục lâu đời. Nến đốt sáng được rước vào nhà thờ tín đồ sẽ thắp nến của mình từ cây nến phục sinh cả nhà thờ được rực sáng bởi ánh nến là dấu hiệu của sự sống chiến thắng được tội lỗi và sự chết. Mọi người reo mừng "Christus ist das Licht- Gott sei ewig Dank". Ngày phục sinh cây nến có ghi hình thánh giá hay khắc tia ánh sáng mặt trời hay dòng nước.. Trên nến có cắm 5 dấu đinh phía trên ghi mẫu tự Alpha và bên dưới mẫu tự Omega với ý nghiã đầu tiên và cuối cùng của tiếng Hy Lạp tượng trưng cho Chúa Jesus là khởi đầu và cuối cùng chung quanh cây nến ghi năm để nói lên " Chúa Jesus là Đấng Cứu độ từ khởi đầu hôm nay và mãi mãi.

Trứng Phục sinh

Từ thế kỷ thứ 12 thứ Bảy Tuần thánh Ostersamstag người ta nấu trứng gà chín và sơn màu sắc sặc sở với những ý nghiã đẹp : màu đỏ tượng trưng cho may mắn màu xanh cho hy vọng trẻ trung vô tội màu vàng cho sự khôn ngoan màu trắng cho thanh bạch màu cam cho sức mạnh... bỏ trứng trong giỏ với những thức ăn khác mang đến nhà thờ. Trứng còn biểu tượng cho sự khởi nguyên của sự sống bởi vậy theo truyền thuyết người chết được tẩm liệm người ta để trong quan tài một cái trứng biểu tượng cho cứu chuộc và sự sống đời sau trên quan tài người chết thường cúng cơm có trứng gà. Người ta quan niệm con gà con tự mổ vỏ trứng chui ra Chúa Jesus bị hành hạ đánh đập qua những đoạn đường dài khổ cực vác thập giá rồi bị đóng đinh chết an táng trong ngôi mộ đá đã đập vỡ cửa mồ và sống lại.

Thỏ Phục sinh

Các chuyện thần thoại hay trong dân gian đều có chuyện vui giúp đời như con thỏ là con vật hiền lành không làm hại sinh vật nào. Thỏ không có khả năng tấn công hoặc gây nguy hại cho các loài động vật khác nhưng lại thường xuyên bị những con như sói báo chim ưng cú... uy hiếp. Chính vì vậy thỏ thường xuyên phải vểnh tai để chú ý xem bốn phía chung quanh có động tĩnh gì không nhằm đề phòng bất trắc. Trong hoàn cảnh khắp nơi là kẻ địch như vậy nên đôi tai của thỏ đặc biệt to dài nghe rất thính để chạy trốn khi nghe tìếng động trước sự tấn công.

Nữ thần ái tình Hy Lạp "Liebesgưttin Aphrodite" cho đến Nữ Thổ Thần Nhật Nhĩ Nam "Erdgưttin Holda" đều yêu chuộng thỏ. Ở Byzanz Tây Ban Nha các nhà biểu tượng học xem biểu tượng con thỏ là một Thiên sứ... Thỏ phục sinh xuất hiện từ năm 1678 do một giáo sư y khoa Von Georg Franck ở Franckenau dạy đại học Heidelberg công nhận thỏ là biểu tượng của sự sinh nở phong phú.

Hoa Phục sinh

Người Đức thường dùng cành cây tươi treo những cái vỏ trứng gà sơn nhiều màu và những con thỏ nhỏ bằng schocolat cho trẻ em và các loại hoa thường dùng như Thủy tiên Uất kim hương Phong tín tử Cúc đồng Bồ công anh Mao cấn...

***

Mùa Phục sinh ở Việt Nam thời tiết thường nắng mát rất dễ chịu (dịp cuối xuân sang hè)  không giống như thời tiết bên Âu châu (ngày rằm tháng đầu của mùa xuân). Thời tiết mỗi lục địa khác nhau sắc thái Mùa Phục sinh cũng như biểu tượng Phục sinh nơi này nơi kia không hoàn toàn giống nhau nhưng ý nghĩa những mùa Lễ Phục sinh đều giống nhau.

Chúa Jesus sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha thì chúng ta cũng hy vọng sẽ được sống lại như Chúa sau khi phải trải qua cái chết của thân xác...

Mừng Lễ Chúa Phục sinh để nhắc nhớ chúng ta thêm niềm tin. Thánh đồ Phaolô đã nói: "Nếu Chúa không phục sinh thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng và cả niềm tin của anh em cũng trống rỗng" (1 Cr 15 14)

 

Tài liệu tham khảo

Ostergeschichte- Quelle Johannes Ver 20 & 21

Nach den Evangelisten Johannes

Universal Lexion Faktum

 

alt

                   Kính chúc các bạn Mùa Phục sinh tràn đầy ân phước!

 

 

More...

NGÔI MỘ CHÚA GIÊSU Ở JERUSALEM

By NGUYỄN THÁI THANH

  
  

  
 Ngôi mộ trống của Chúa Giêsu Phục Sinh trong Holy Sepulchre - Jerusalem 

Nhìn từ trên cao 
 
 
 

Nhìn gần
 
  

Từ trên nhìn xuống - nơi đám đông là chỗ xem lễ vào buổi sáng -
phía sau là nơi cử hành các nghi thức của Chính Thống Giáo
 
 
 
 

Mái vòm nhà thờ Mộ Chúa 
 
  

Ngay trên cửa vào bên trong có gắn hình
Chúa Giêsu và 12 Thánh Tông Đồ
 
 
  

Bên trong nhà nguyện Thiên Thần -
Mộ Chúa phía bên trong.
 
   

Phía trong là Mộ Chúa Giêsu - Bàn thờ ngay trên Mộ Chúa -
Nơi thắp nến đánh dấu hướng đầu của Chúa. Chổ đứng chỉ
rộng khoảng 1m x 2m - Không thể chụp hết cảnh bên trong!
 
            

Từ trên nhìn xuống - nơi đám đông là chỗ dự lễ vào buổi sáng -
phía sau là nơi cử hành các nghi thức của Chính Thống Giáo
 
 
            


 Halelugia! Mừng Chúa Phục Sinh!
 
  


More...

Ánh Sáng Bừng Lên Trong Đêm Tối

By NGUYỄN THÁI THANH


  
  
1.Thánh Lễ đêm

Thánh Lễ chính của Lễ Giáng sinh thường được cử hành ban đêm. Phải chăng vì đó là thời gian thuận tiện cho mọi người dự lễ? Phải chăng vì bầu khí ban đêm làm cho cuộc lễ thêm phần huyền diệu và thánh thiện (như lời ca đêm thánh vô cùng)? Phải chăng để cho đúng với sự kiện lịch sử ngày xưa Chúa Giêsu sinh ra ban đêm?
  
  
Các lý do trên đều có phần đúng. Nhưng lý do chính là: Chúa Giêsu là ánh sáng Ngài sinh xuống trần gian như ánh sáng bừng lên trong đêm tối.
Đêm tối tượng trưng cho tội lỗi bất hạnh buồn sầu; ánh sáng tượng trưng cho ân sủng hạnh phúc mừng vui.
Khi sinh xuống trần gian Chúa Giêsu mang lấy trên mình tất cả tăm tối của loài người với bao tội lỗi bất hạnh và buồn sầu nhưng để: ban lại cho loài người ánh sáng của Thiên Chúa bao gồm mọi ân sủng hạnh phúc và mừng vui.
Các sử gia đến nay vẫn còn chưa xác định được Chúa Giêsu sinh ra vào ngày nào tháng nào. Các Giáo hội Cơ Đốc giáo chọn ngày 25 tháng 12 để cử hành Lễ sinh nhật của Ngài vì hai lý do: a/ Đây là ngày mà mặt trời chiếu sáng nhất và là ngày dài nhất trong năm; b/ xưa kia ngày này là lễ mừng Thần Mặt trời của người Rôma ngoại giáo. Với những lý do đó người Cơ Đốc giáo muốn truyền tải một thông điệp: Chúa Giêsu chính là Mặt Trời đích thực đánh tan tối tăm của tội lỗi và sự gian tà.

2. Lễ của người giàu hay của người nghèo?
Trong dịp Lễ Giáng sinh người ta chi tiêu rất nhiều: trang hoàng tiệc mừng thiệp chúc quà tặng... Xem ra đây là lễ của người giàu.
Nhưng Đấng mà người ta mừng sinh nhật thì rất nghèo: cỏ rơm hang súc vật tã lót sơ sài... Những khách mời ưu tiên cũng là những người chăn chiên nghèo... Dấu chỉ mà thiên thần cho những người chăn chiên ấy dựa vào để nhận ra Chúa cũng là dấu hiệu nghèo: "Và đây là dấu hiệu để các ngươi nhận biết Ngài: các ngươi sẽ thấy một Hài nhi mới sinh bọc trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ". Vậy đây phải là lễ của người nghèo mới đúng.
Để cho Lễ Giáng sinh có ý nghĩa nghèo người ta tổ chức thăm viếng tặng quà khám bệnh phát thuốc cho người nghèo.
Thực ra tất cả những việc ấy chỉ mặc cho lễ Giáng sinh một chút dáng vẻ nghèo mà thôi. Tinh thần nghèo của Lễ Giáng sinh và của Đấng giáng sinh phải thấm sâu vào và thể hiện ra:
-Bằng một lối sống không thượng tôn tiền bạc như chúa tể.
-Bằng một thái độ đối xử tôn trọng và yêu thương người nghèo.
-Bằng một cách nhìn mới hẳn thấy chính Chúa trong người nghèo: "Và đây là dấu hiệu để các ngươi nhận biết Ngài: các ngươi sẽ thấy một Hài nhi mới sinh bọc trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ".

3. Khởi đầu của một cuộc cách mạng
Những cuộc cách mạng thường khởi đầu một cách rất rầm rộ. Biến cố Chúa Giêsu giáng sinh khởi đầu cho một cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong tất cả các cuộc cách mạng. Tuy nhiên sự khởi đầu này rất im lìm nhỏ bé bình thường: một đứa trẻ con nhà nghèo sinh ra trong thiếu thốn vào thời điểm âm thầm giữa đêm khuya tại một nơi hẻo lánh hiu quạnh.
Nhưng suy cho kỹ thì sẽ thấy khởi đầu như vậy mới đúng hướng và vững chắc vì điều mà Thiên Chúa muốn làm cách mạng thay đổi chính là cách sống ồn ào vật chất cao ngạo tham lam.
Rồi đây nhà cách mạng Giêsu sẽ tiếp tục lớn lên trong khiêm hạ sẽ chiêu mộ những đệ tử khiêm hạ rao giảng một Tin Mừng khiêm hạ... Cuộc cách mạng của Ngài sẽ biến đổi cả thế giới.

4. Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta
Một người kia không thể nào tin được việc Ngôi Hai Thiên Chúa cao sang mà xuống thế mang lấy thân phận con người hèn hạ. Vì thế đêm lễ Giáng sinh ông không cùng vợ con đi nhà thờ dự lễ mà ở lại nhà.
Sau khi vợ con đã ra đi được ít lâu thì gió thổi mạnh và có một cơn bão tuyết. Khi nhìn ra cửa sổ  ông chỉ thấy toàn là tuyết.  Bỗng một tiếng "thịch" thật lớn rồi tiếp theo là một tiếng nữa và nhiều tiếng nữa giống như có ai đó ném tuyết vào cửa sổ. Ông mở cửa nhà bước ra xem. Thì ra là một đàn chim đang lao đao trong mưa tuyết muốn bay vào cửa sổ nhà ông để tìm chỗ trú.
-"Tội nghiệp những chú chim nhỏ bé. Mình phải tìm cách giúp chúng mới được . Ông chợt nghĩ đến nhà kho của mình. Ông mặc áo ấm vào đi ra cái kho sau nhà mở cửa và gọi chúng vào. Nhưng bầy chim vẫn đứng im.
-"Hay là chúng không thấy lối". Ông bật đèn nhà kho lên rồi trở ra gọi chúng. Chúng vẫn đứng im.
-"Lạ thế! Hay mình đi lùa chúng vào". Thế là ông đi đến chỗ cửa sổ đưa tay lùa. Lũ chim chẳng những không bay theo hướng ông lùa mà còn bay trốn tán loạn.
Cuối cùng ông mới hiểu ra: "Chúng sợ mình vì chúng lạ với mình. Phải chi mình giống như chúng thì khi mình đến gần chúng sẽ không sợ nữa".
Đúng lúc đó một lời Tin Mừng từ nhà thờ vọng đến tai ông: "Ngôi Lời đã trở thành xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta". Ông quỳ gối xuống và thưa: "Lạy Chúa bây giờ con đã hiểu tại sao Chúa giáng sinh làm người như chúng con".
  
  
 Chúc các bạn Mùa Giáng sinh An bình Hạnh phúc! 
  

More...

Lịch Sử Cây Giáng Sinh

By NGUYỄN THÁI THANH

Truyền thuyết về thánh Boniface một thầy tu người Anh người đã sáng lập ra nhà thờ đạo Cơ Đốc ở Pháp và Đức kể rằng một hôm trên đường hành hương ngài tình cờ bắt gặp một nhóm những kẻ ngoại đạo sùng bái đang tập trung quanh một cây sồi lớn dùng một đứa trẻ để tế thần. Để dừng buổi tế thần và cứu đứa trẻ Boniface đã hạ gục cây sồi chỉ bằng một quả đấm!. Tại nơi đó đã mọc lên một cây thông nhỏ. Vị thánh nói với những kẻ ngoại đạo rằng cây thông nhỏ là cây của sự sống và nó tượng trưng cho cuộc sống vĩnh hằng của Chúa cứu thế.

 
  
Theo một tương truyền khác cho rằng : Một lần kia Martin Luther người sáng lập đạo Tin Lành dạo bước qua những cánh rừng vào một đêm Noel khoảng năm 1500. Trời quang và lạnh. Hàng triệu vì sao sáng lấp lánh qua kẽ lá. Ngài thực sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của một loài cây nhỏ trên cành cây tuyết trắng phủ đầy lung linh dưới ánh trăng. Cảnh vật hôm đó đã làm Luther thực sự rung động. Vì thế khi trở về ngài đã đặt một cây thông nhỏ trong nhà và kể lại câu chuyện này với lũ trẻ. Để tái tạo ánh sáng lấp lánh của muôn ngàn ánh sao ngài đã treo nến lên cành cây thông và thắp sáng những ngọn nến ấy với lòng tôn kính ngày Chúa giáng sinh.

Một truyền thuyết khác lại kể rằng vào một đêm Noel đã rất lâu rồi có một người tiều phu nghèo khổ đang trên đường trở về nhà thì gặp một đứa trẻ bị lạc và lả đi vì đói. Mặc dù nghèo khó nhưng người tiều phu đã dành lại cho đứa trẻ chút thức ăn ít ỏi của mình và che chở cho nó yên giấc qua đêm. Vào buổi sáng khi thức dậy ông nhìn thấy một cái cây đẹp lộng lẫy ngoài cửa. Hoá ra đứa trẻ đói khát tối hôm trước chính là Chúa cải trang. Chúa đã tạo ra cây để thưởng cho lòng nhân đức của người tiều phu tốt bụng.

Nguồn gốc thực của cây Giáng sinh có thể gắn liền với những vở kịch thiên đường. Vào thời Trung Cổ những vở kịch về đạo đứcđược biểu diễn khắp Châu Âu thông qua các vở kịch ấy người ta có thể truyền bá các bài Kinh thánh. Những vở kịch nói về nguồn gốc của loài người và sự dại dột của Adam và Eve ở vườn Eden thường được diễn vào ngày 24 tháng 12 hàng năm. Cây táo là một đạo cụ trong vở kịch nhưng vì các vở kịch được diễn vào mùa đông các loài cây đều chưa kết trái nên các diễn viên phải treo những quả táo giả lên cành cây.

Phong tục cây Giáng sinh trở nên phổ biến ở Đức vào thế kỷ 16. Người theo đạo Cơ đốc mang cây xanh vào trong nhà và trang hoàng cho chúng trong dịp lễ Giáng sinh. Ở những vùng vắng bóng cây xanh mọi người tạo ra các đồ vật hình chóp từ gỗ và trang trí cho nó các cành cây xanh và nến. Chẳng bao lâu sau phong tục cây Giáng sinh đã trở nên phổ biến ở các nước Châu Âu.

Theo một truyền thuyết của nước Mỹ một cuộc vui tổ chức xung quanh cây Giáng sinh vào một đêm Noel lạnh lẽo ở Trenton New Jersey trong thời gian nội chiến đã làm thay đổi cục diện cuộc chiến. Những người lính phe Liên Bang quá nhớ nhà nhớ những ngọn nến được thắp sáng treo trên các cành thông Giáng sinh đã bỏ nơi canh gác để ăn uống vui vẻ. Washington đã tấn công và đánh bại họ trong đêm đó.

Vào giữa thế kỷ 19 Hoàng tử Albert chồng tương lai của nữ hoàng Victoria ra đời. Chính ông đã phổ biến rộng rãi phong tục cây Giáng sinh vào nước Anh. Năm 1841 đôi vợ chồng Hoàng gia này đã trang hoàng cây Giáng sinh đầu tiên của nước Anh tại lâu đài Windson bằng nến cùng với rất nhiều loại kẹo hoa quả và bánh mỳ gừng. Khi cây Giáng sinh trở thành thời thượng ở Anh thì những gia đình giàu có đã dùng tất cả những đồ vật quý giá để trang trí cho nó. Vào những năm 1850 theo sự mô tả của đại văn hào Charles Dickens thì cây Giáng sinh ở Anh được trang hoàng bằng búp bê những vật dụng nhỏ bé các thiết bị âm nhạc đồ trang sức súng và gươm đồ chơi hoa quả và bánh kẹo. Sau khi đã tồn tại ở Anh thì phong tục cây Noel cũng trở nên phổ biến trên khắp các vùng thuộc địa của đế chế Anh tới cả những vùng đất mới
  
  
như Canada.

Cây Giáng sinh lần đầu tiên được dân chúng ở Mỹ biết đến là vào những năm 1830. Khi hầu hết người dân Mỹ đều coi cây Giáng sinh là một điều kỳ cục thì những người Đức nhập cư ở Pennsylvania thường mang cây Giáng sinh vào các buổi biểu diễn nhằm tăng tiền quyên góp cho nhà thờ. Năm 1851 một mục sư người Đức đặt một cây Giáng sinh trước nhà thờ của ông làm cho những người dân xứ đạo ở đó đã bị xúc phạm và buộc ông phải hạ nó xuống. Họ cảm thấy đó là một phong tục ngoại đạo.

Tuy nhiên vào những năm 1890 nhiều đồ trang trí bắt đầu được nhập từ Đức vào và từ đó tục lệ về cây Giáng sinh trở nên phổ biến tại Canada và Mỹ. Có một sự khác biệt lớn giữa cây Giáng sinh của Châu Âu và Bắc Mỹ cây của Châu Âu nhỏ hiếm khi cao hơn một mét rưỡi chỉ khoảng 4 hoặc 5 feet trong khi cây của Bắc Mỹ cao tới trần nhà.

Năm 1900 cứ 5 gia đình ở Bắc Mỹ thì có một gia đình có cây Giáng sinh và 20 năm sau phong tục này trở nên khá phổ biến. Vào những năm đầu thế kỷ 20 người dân Bắc Mỹ thường trang trí cây thông bằng đồ trang trí do chính tay họ làm ra. Đồ trang trí truyền thống của người Ca-na-đa và người Mỹ gốc Đức gồm có quả hạnh nhân quả hạch bánh hạnh nhân với nhiều hình dạng thú vị khác nhau. Những hạt bắp chiên nhiều màu sắc được trang trí cùng những quả phúc bồn tử và các chuỗi hạt. Cũng vào thời gian này bắt đầu xuất hiện những dây đèn trang trí trên cây Giáng sinh nhờ nó cây thông rực rỡ hơn nhiều lần. ánh sáng trang trí bằng đèn điện kéo dài hơn và an toàn hơn rất nhiều so với ánh sáng toả ra từ những ngọn nến.

Mỗi năm khi ngày Giáng sinh tới một cây Giáng sinh lộng lẫy được đặt tại quảng trường trung tâm Bentall thành phố Vancouver phía nam BritishColumbia. Và dân chúng tập trung xung quanh cây Giáng sinh đầu tiên vừa được dựng lên và chưa được trang hoàng lộng lẫy kia. rồi ở cuối thành phố cây thông sáng bỗng bừng lên với muôn vàn ánh đèn đầy màu sắc cùng lúc đó đội hợp xướng nhà thờ ca vang bài hát mừng lễ Giáng sinh. Tại ngọn đồi Parliament ở Ottawa một cây Giáng sinh rực rỡ ánh đèn màu được đặt cạnh ngọn đuốc thế kỷ của Canada cùng với âm vị ngọt ngào của giai điệu Giáng sinh tuyệt vời từ tháp Hoà Bình Carillon vang đến.

Hàng thủy tùng Ailen mười sáu cây toả sáng lung linh trước quảng trường Union của Prancisco.Tại trung tâm Rockefeller ở NewYork một cây Giáng sinh khổng lồ luôn lấp lánh bên cửa ra vào trước sân trượt băng. Tại thủ phủ Wasington chính tổng thống đã thắp sáng cây vân sam trên bãi cỏ trước cửa nhà Trắng 50 quả bóng bay lớn nhiều màu sắc được trang hoàng trên cây tượng trưng cho 50 bang. Một cây thông Nauy cao lớn đã tôn thêm vẻ duyên dáng cho quảng trường Trafalgar ở London. Đối với dân trong các thành phố thì lễ trang hoàng cây thông Nô-en báo hiệu một mùa Giáng sinh đã đến.

Từ năm 1947 những người ở Oslo hàng năm thường tặng một cây vân sam Na-uy cho những công dân của London đối với mọi người ở những thành phố này cũng như những thành phố khác thì lễ thắp đèn cho cây đánh giấu sự bắt đầu của một lễ Giáng sinh.


More...

Mùa Vọng & Giáng Sinh

By NGUYỄN THÁI THANH

  
  
T
heo một câu nói rất chí lí: Lễ Giáng sinh không gì khác là một chiếc sàng vĩ đại lọc lấy tất cả những gì là tinh hoa nhất trọng yếu nhất hiệu năng nhất cả bên ngoài lẫn Cơ đốc giáo còn tất cả những gì là nhỏ nhen và vô nghĩa còn sót lại thì bị lọt xuống dưới sàng và bị cuốn đi. Lễ này đã trở thành ngày lễ lớn của cả một năm ngày trọng đại nhất đã thu hết cả những nghi lễ và biểu tượng của tất cả các ngày hội.
Trước 2000 năm Chúa giáng sinh các dân tộc trên thế giới đều có những ngày lễ khác nhau vào tháng 12. Ở Ägyptern/ Egypt mừng sinh nhật Horus Ấn Độ mừng chúa Ánh sáng (Lichtgotte) người La Mã cổ mừng ngày hội Saturnalien. Các quốc gia có nhiều lễ lộng lẫy riêng biệt. Người ta không được biết chính xác về ngày sinh của Chúa Cứu Thế và trên dưới 200 năm trong thời gian các tín đồ Cơ đốc giáo sống dưới sự bách hại Giáo hội thời đó không tổ chức lễ Giáng sinh. Ít lâu sau năm 200 lễ này mới được cử hành theo những nhật kì khác nhau: ngày 6/1 25/3 và 25/12. Năm 217 Giáo Hoàng Hyppolist chọn 25/12 làm ngày kỷ niệm Chúa giáng sinh sau những ngày mùa Vọng.
Mùa Vọng ngày xưa thường gọi là mùa Áp (theo tiếng Latinh là Adventus ra tiếng Anh là Advent; từ động từ Advenire có nghĩa là "đến gần"). Mùa Vọng với ý nghĩa là mùa "trông đợi" "mong chờ".  Ngay từ thời Cựu Ước nhân loại đã mong đợi Đấng Cứu Thế ra đời.

Vòng hoa mùa Vọng

  
  
Vòng hoa mùa Vọng là vòng tròn kết bằng cành lá xanh. Trên vòng lá đặt 4 cây nến: 3 cây màu tím tượng trưng cho sám hối và một cây màu hồng nói lên niềm vui sự chờ đợi và hy vọng ngày Chúa đến.
Vòng lá hình tròn nói lên tính cách vĩnh hằng và tình yêu thương vô tận của Thiên Chúa. Màu xanh lá nói lên hi vọng rằng Đấng Cứu Thế sẽ đến cứu con người.  Vòng hoa mùa Vọng với bốn cây nến cũng tượng trưng cho cuộc chiến chống lại bóng tối. Tục lệ này khởi xướng bởi các tín hữu Tin lành ở Đức vào thế kỷ 16. Thần học gia Tin lành Johann Wichern tại Hamburg vào năm 1838 đã thắp lên mỗi ngày trong mùa Vọng một cây nến và cắm trên một giá gỗ hình tròn.
Vào ngày Lễ Giáng sinh căn phòng rực sáng với ánh nến ánh sáng nến tượng trưng cho Chúa Giêsu. Các năm sau đó người ta trang trí bức tường nhà bằng những nhánh thông xanh. Năm 1860 người ta cũng trang trí khung gỗ tròn bằng những cành thông 28 cây nến gom lại còn 4 cây tượng trưng cho 4 tuần. Và thế là vòng hoa mùa Vọng được phát sinh.
Đầu tiên phong tục này được các gia đình Tin lành thực hành sau đó vòng hoa Mùa Vọng được treo trong nhà thờ Công giáo năm 1925 tại Köln. Phong tục này đã phổ biến từ miền Bắc nước Đức và ngày nay đã lan truyền đến nhiều nơi trên thế giới.

Ông già Giáng sinh Père de Noel /Nikolaus/ Santa Claus/Sinterklass/ Nikola

Hình ảnh rất quen thuộc trong mùa Giáng sinh là ông già Noel. Ông mặc quần áo đỏ đội mũ đỏ kiểu xứ lạnh đi giầy đen tóc bạc phơ và râu trắng như tuyết đeo đai lưng mầu đen vai mang nhiều quà. Đó chính là hình ảnh của vị thánh Giám mục Nicôla thành Myra xứ Lixia.
Thánh Nicôla sống vào thế kỉ thứ 4 viết nhiều tác phẩm nổi tiếng về tôn giáo được nhiều người biết đến bởi lòng bác ái. Ngài được coi là người bạn đặc biệt và là vị thánh phù trợ nhi đồng.
Ông già Noel theo tiếng Pháp Père de Noel tiếng anh Santa Claus tiếng Hòa-Lan Sinterklass.Theo tài liệu trước khi được phong thánh ông Nikolaus là người giầu có nhân từ. Vào đêm Giáng sinh ông được Thiên Chúa mặc khải đem hết của cải riêng mình ban phát cho những người nghèo khổ và trẻ con. Ông biến những giấc mơ của họ thành sự thực bằng cách mua quà bánh để biếu những kẻ nghèo khổ mang lại cho họ những sung sướng bất ngờ.
Theo truyền thuyết vào đêm Giáng sinh ông già Noel thường theo đường ống khói lò sưởi vào mỗi gia đình để đồng tiền hay bánh kẹo vào trong chiếc vớ hay chiếc giày cho trẻ con treo gần giường ngủ hay lò sưởi đem lại giấc mơ đẹp với tuổi thơ trong đêm Giáng sinh. Bởi thế cha mẹ thường mua qùa bỏ vào đôi vớ để cạnh lò sưởi lúc trẻ con thức dậy vui mừng với món quà của ông già Noel tặng. Phong tục này khuyến khích trẻ em nên làm điều thiện để được ông già Noel tặng quà.

Ðêm Thánh vô cùng / Heiligabend /silent night

Lễ Giáng sinh thường giống nhau nhưng có sự thay đổi chi tiết tùy mỗi địa phương trên thế giới. Tại Việt Nam các thành phố hay giáo phận Công giáo thường cử hành Thánh lễ Giáng sinh vào đêm 24 tháng 12 hàng năm.
Tại nước Anh ngày lễ này được gọi là Christes Masse (Lễ Misa của Chúa Cứu Thế) vì một lễ Misa đặc biệt đã được cử hành trong ngày này. Người Pháp đặt tên là Noel người Tây Ban Nha gọi là Nativdad và người Ý lấy tên là Natab có nhĩa là "Sinh nhật". Người Đức gọi là Wehrachten nghĩa là "Đêm Thánh".
Bài thánh ca "Đêm Thánh Vô Cùng" của nhạc sĩ thiên tài người Áo Franz Xaver Grubert (1787-1863) là một trong số những bài thánh ca hay nhất và được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất. Năm 1840 nhạc sĩ Franz Grubert là người đệm dương cầm cho Giáo đường nằm cạnh bờ sông Danube. Grubert báo cho cha Sở Joseph biết rằng vào giờ chót đàn dương cầm hư không thể sửa được xin cha chọn bài hát khác không cần đệm dương cầm.
Cha Josep viết liền lời thánh ca và nhạc sĩ Grubert phổ nhạc ngay tại chỗ. Đêm Giáng sinh năm 1840 bài thánh ca Weihnachtslied "Silent Night/ Đêm Thánh Vô Cùng" ra đời và được hợp ca với một cây đàn nhỏ phụ họa. Đó là bài thánh ca bất hủ lưu truyền đến bây giờ.
„ Đêm thánh vô cùng giây phút tưng bừng. Đất với trời xe chữ đông; Đêm nay Chúa Con thần thánh tôn thờ. Canh khuya giáng sinh trong chốn hang lừa ơn châu báu không bờ bến Biết tìm kiếm của chi đến. Ôi Chúa Thiên đàng cam mến cơ hàn nhấp chén phiền vương phong trần. Than ôi Chúa thương người đến quên mình bỏ vô chốn quê nhà lúc sinh thành. Ai ham sống trong lạc thú. Nhớ rằng Chúa đang đền bù. Tinh tú trên trời. Sông núi trên đời với Thánh Thần mau kết lời Cao rao Hóa công đã khéo an bài . Sai Con hiến thân mong cứu nhân loại. Hang chiên máng rêu tạm trú bốn bề tuyết sương mịt mù.. „
Người Tây phương mừng Giáng sinh vào đêm 24/12 nhưng mỗi quốc gia có phong tục văn hoá khác nhau.
Xứ Đức thời tiết lạnh tuyết rơi nên sinh hoạt Giáng sinh khác với Việt Nam. Đường phố từ
  
  
chiều 24 yên lặng tiệm quán đều đóng cửa đúng với nghiã đêm yên lặng (silent night). Từ thế kỷ thứ 8 người Ðức đã mừng Giáng sinh. Ngày 24 làm việc chỉ nửa ngày 14 giờ các siêu thị đóng cửa hãng xưởng nghỉ việc chiều tối các nhà Thờ đều có Thánh lễ . Sau Thánh lễ họ về nhà gia đình vui chơi bên cây thông hang đá nhấp nháy đèn màu dưới gốc thông là những gói quà để tặng nhau .
Các bữa tiệc Giáng sinh hay ăn Reveillon thường có ngỗng quay tiếng Đức gọi là Weihnachtsgans theo truyền thống (tradition) không ăn gà tây như lễ Tạ ơn Thanhsgiving của người Mỹ. Ngoài ra có các loại bánh Giáng sinh Weihnachtstollen Lebkuchen Weihnachtsplätzchen Weihnachtgebäck rượu nho v. v... Giống như Tết của người Việt Nam phải có bánh chưng bánh tét các loại mứt hạt dưa. Tuy nhiên sinh hoạt những vùng quê người Đức họ có tập quán riêng dù tuyết rơi giá lạnh nhưng nhà Thờ vẫn làm lễ lúc 22 giờ cho đến khuya. Họ không ăn tiệc nửa đêm nhưng ngày 25 đại gia đình phải có mặt đầy đủ ăn tiệc không riêng gì ngỗng quay còn những món khác do các bà khéo tay trổ tài trong dịp này. Những người lớn tuổi như ông bà nội bà ngoại phát quà cho các cháu (giống như tục lì xì cuả người Việt trong dịp đầu năm) sau đó mọi người trao quà cho nhau. Họ vui chơi ăn nhậu suốt ngày 25.
Miền New England dân chúng ăn tiệc mừng Giáng sinh theo người Anh. Trong bữa ăn "Réveillon" nửa đêm luôn luôn tổ chức trọng thể có một loại rượu đặc biệt chế bằng nước trái cây ép với vài hương liệu Đông phương như đinh hương đậu khấu và rượu nho. Thứ rượu đặc biệt trên phải hâm nóng uống như rượu saké của Nhật để chống lại cái lạnh bên ngoài. Tại Ðức cũng có loại rượu nho Gluehwein hâm nóng bán tại các chợ trong mùa Giáng sinh.
Người Island mùa Vọng từ ngày 12 đến 24 mỗi ngày thường bỏ những món quà nhỏ trong giày tượng trưng quà của Nikolaus dành cho trẻ con. Chiều 24 bắt đầu bữa tiệc mừng Giáng sinh sau đó họ đi thăm nghiã trang mang đến những tràng hoa và đốt nến trên mộ phần người thân. Ở Ý người ta không dùng cây thông trang điểm cho mùa Giáng sinh nhưng họ làm hang đá và ăn tiệc đêm 24./12 cho đến lễ Ba Vua 6/1 năm mới. Họ bỏ kẹo bánh vào chiếc vớ hay giày làm qùa cho trẻ con. Người Tây Ban Nha và Bồ Đồ Nha chỉ tặng qùa vào lễ Ba Vua.
Người Mỹ đoàn tụ gia đình ngày thứ năm cuối tháng 11 mừng Thanksgiving/ Danke schöne hàng năm để tạ Thượng Đế tạ ơn đời và ơn người. Trong đêm Giáng sinh mọi gia đình cũng tổ chức ăn uống trao đổi quà tặng cùng những lời chúc tốt đẹp nhất cho Giáng sinh và Năm mới.
Vinh danh Thiên Chúa trên trời bình an dưới thế cho người thiện tâm là khuyến chúc của Ngày Lễ trọng đại nhất nhất hành tinh này.

(Tổng hợp từ những nguồn tư liệu & bài viết về Giáng sinh)



More...

Phục Sinh

By NGUYỄN THÁI THANH

Ngày hôm nay 12.4.2009  các Giáo hội Cơ Đốc giáo trên toàn thế giới kỷ niệm Chúa Phục Sinh. 

Dù không mừng Lễ Phục Sinh lớn và vui như Lễ Giáng Sinh nhưng trên phương diện thần học Lễ Phục Sinh quan trọng hơn lễ Giáng Sinh vì Cơ Đốc giáo được xây dựng trên một điểm cực kỳ quan trọng: Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thập giá và chết và ba ngày sau Người sống lại. Phục Sinh là sống lại. Lễ Phục Sinh là lễ kỷ niệm sự sống lại của Chúa Giêsu. Nếu không có sự sống lại không có Lễ Phục Sinh không có Cơ Đốc giáo.

Lễ Phục Sinh không có ngày nhất định trên lịch hàng năm. Nó là ngày chúa nhật thứ nhất từ 14 ngày sau ngày xuân phân tức là ngày chính thức của mùa xuân ở Âu Mỹ. Trước lễ Phục Sinh 40 ngày là Mùa Chay hay Mùa Thương Khó  mùa của ăn chay cầu nguyện sám hối bố thí và hãm mình.

Tuần trước Lễ Phục Sinh là Tuần Thánh bắt đầu bằng chúa nhật Lễ Lá kỷ niệm ngày Chúa Giêsu đi vào thành Jerusalem và được hàng nghìn dân Do Thái tiếp đón bằng cách lót lá trên đường Chúa đi và phất lá trên tay.

Ngày thứ năm trước Phục Sinh là lễ Vượt Qua tức là lễ kỷ niệm ngày dân Do Thái được thoát ách nô lệ ở Ai Cập và ngày nay là biểu tượng của dân Chúa thoát khỏi ách nô lệ của tội lỗi nhờ sự chết của Chúa Giêsu.

Ngày thứ sáu là ngày Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày Chúa chết.

Và chúa nhật là ngày Chúa sống lại.

Sau Lễ Phục Sinh là Mùa Phục Sinh. Trước đây Mùa Phục Sinh chỉ có 40 ngày từ  Lễ Phục Sinh đến Lễ Thăng Thiên tức là ngày Chúa Giêsu về trời.

Nhưng ngày nay Mùa Phục Sinh kéo dài 50 ngày chấm dứt bằng ngày Chúa Thánh Linh hiện xuống cùng các môn đệ của Chúa Giêsu. 

Ở Âu Mỹ người ta có truyền thống tô điểm trứng (gà vịt v.v..) với nhiều màu sắc sặc sỡ rất đẹp để trang trí cho Lễ Phục Sinh gọi là Trứng Phục sinh. Trò chơi săn tìm Trứng Phục Sinh thường được các nhà thờ tổ chức trong ngày Phục Sinh trong đó người tổ chức đem Trứng Phục Sinh dấu quanh sân để mọi người săn tìm.

Thỏ Phục Sinh là thỏ với đủ màu sắc sặc sỡ cũng là một biểu tượng của Phục Sinh. Có lẽ vì thỏ nổi tiếng là sinh sôi nhiều.

Ý nghĩa của Phục Sinh còn là sự tái sinh biến đổi liên tục trong mỗi con người chúng ta. Chết đi những xấu xa tội lỗi; sống lại mới lại với một sự hoàn thiện tốt đẹp hơn.

Mùa Phục Sinh còn được coi là mùa Xuân của Cơ Đốc giáo.
 
Chúc các bạn một Mùa Phục Sinh an bình và tràn đầy phước hạnh!

More...

Mùa Chay

By NGUYỄN THÁI THANH


Tháng 3 là tháng mà người Cơ đốc giáo sống trong tâm tình Mùa Chay. Nếu như Mùa Giáng Sinh là mùa vui  mùa mừng thì Mùa Chay trái lại là mùa buồn mùa thương khó. Entry này ntt xin được giới thiệu đôi nét về nguồn gốc và ý nghĩa Mùa Chay để những bạn đọc quan tâm có thể hiểu thêm về những tập tục truyền thống của Cơ đốc giáo.
__________________

T
ừ ngữ tiếng Việt "Mùa Chay" lấy từ tiếng Latinh Quadragesima chỉ định thời gian Phụng vụ trước Mùa Phục sinh có nghĩa là 40 một từ gồm nhiều biến cố quan trọng được Kinh thánh nói tới nhiều lần. Bốn mươi ngày của Mùa Chay gợi nhớ đến 40 ngày Chúa Giêsu chay tịnh và chịu cám dõ trong sa mạc. Nhưng khi chúng ta đọc những bản văn tường thuật của Phúc âm về các cơn cám dỗ của Chúa luôn được công bố vào Chúa nhật đầu Mùa Chay hướng chúng ta về nhiều chủ đề khác. Những cơn cám dỗ Chúa chịu cũng còn gợi lại 40 năm dân Israel chịu thử thách trên đường tiến về Đất Hứa... Nối tiếp con só 40 này chúnh ta cùng tìm hiểu thêm những chủ đề khác.


Bốn Mươi
Bốn mươi là con số khá quen thộc trong Kinh thánh. Trong câu chuyện Nôe và nạn Hồng thuỷ trời mưa 40 ngày và 40 đêm. Sau khi kí Giao ước tại núi Sinai ông Môse đã ở với Thiên Chúa 40 ngày và 40 đêm. Khi tiên tri Êlia bị hoàng hậu Giêsaben rượt đuổi ông phải trốn chạy thục mạng và trải qua 40 ngày và 40 đêm cho đến khi đến được núi của Thiên Chúa tại Hôrep (Sinai). Chúa Giêsu lên trời sau 40 ngày Người sống lại. Một đoạn văn khác trong Kinh thánh thuật lại cảnh dân Israel đóng trại tại sa mạc phía nam rất gần với Đất Hứa. Những người do thám đi trước để thị sát vùng đất họ đã đi trong thời gian 40 ngày. Họ đã đem lại tin tức sáng sủa về miền đất mới nhưng cũng cho biết rằng dân cư tại đó đều là những con người cao lớn và hùng mạnh. Dù Giôsuê và Clép ra sức trấn an dân chúng họ đều ngao ngán và khiếp sợ khi tiến về vùng đất. Sự khiếp nhược cùng những lời chê bai của dân là một thất bại thảm hại về niềm tin và lời hứa Thiên Chúa ban đất riêng cho họ. Như một sự trừng phạt họ phải lang thang trên hành trình ròng rã 40 năm mỗi năm được kể là một ngày theo số ngày người Do Thái đã đi.
Các con số trong Kinh thánh không được hiểu theo nghĩa đen nó chỉ mang tính cách biểu tượng. Nhưng lòng hiếu kì và sự ngờ vực lại thường khơi dậy trong chúng ta nhiều câu hỏi về con số 40. Đâu là ý nghĩa biểu trưng của con số 40? Xét theo một khía cạnh thì nó biểu thị một thời gian lâu dài và cùng với thời gian ấy nó hàm chứa bao sự việc khác: đó là thời gian của những đòi hỏi của phấn đấu và thử thách. Đúng ra là ý nghĩa ngoại vi của cách dùng chữ số trong Kinh thánh. Lại còn một ý nghĩa khác có thể gọi là ý nghĩa thứ ba: Bốn mươi biểu thị một thời gian chuẩn bị cho một hành động đặc biệt nào đó của Thiên Chúa: đó là thời gian của ân sủng. Sau Hồng thuỷ là bắt đầu một tạo vật mới. Sau khi Môse đàm đạo với Thiên Chúa Giao ước được kí kết. Sau hành trình gian khổ trong sa mạc dân Israel tiến vào Đất hứa. Sau khi trốn chạy ông ông Êlia được Thiên Chúa gia tăng sức mạnh và tiếp tục sứ mệnh tiên tri. Sau khi chịu cám dỗ Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ công khai. Sau biến cố Thăng thiên chúng ta bắt đầu kỉ nguyên của Giáo hội. Và sau khi kết thúc Mùa Chay chúng ta cử hành Tuần Thánh và Đại lễ Phục sinh.

Sa mạc

Như đã nói con số thời gian chỉ là biểu trưng. Vậy còn nơi chốn? Dân Israel biết rõ sa mạc ở đâu bởi vì bản văn chỉ rõ hướng nam vùng tây nam và đông xuyên qua sông Giocđan. Sa mạc là nơi thiếu nước thiếu thực phẩm cây cỏ rất ít cũng là nơi cư trú của nhiều loài vật nguy hiểm. Như vậy sa mạc là nơi khắc nghiệt là nơi thách thức sự sống còn. Sa mạc nói tới đây cũng mang ý nghĩa biểu trưng. Trong tôn giáo của dân Canaan có một vị thần đặc biệt tên là Mot (một từ có nghĩa là sự chết) cai quản chỗ nóng khô đất hoang là sa mạc và thời gian của mùa hạ nóng bức khô cạn và cằn cỗi. Khi ngừng mưa cây cỏ nơi đây khô héo rồi tàn tạ chết. Sa mạc là nơi phủ định là nơi ngự trị của Thần Chết - Mot - là nơi phải đối diện với những vấn đề cốt thiết nhất. Trong Phúc âm Chúa Giêsu chịu thử thách trong sa mạc để trở thành một Đấng Mêsia khác một Đấng chọn đi theo vinh quang và quyền lực thay vì chọn hi sinh và phục vụ trong thiên hạ. Cám dỗ này vẫn bám theo Người suốt hành trình sứ vụ cho đến lúc chết nhất là khi Người bị khiêu khích bước xuống khỏi thập giá.
Nhiều nhà tu đức hôm nay nói về những "trải nghiệm trong sa mạc". Đây là những kinh nghiệm tĩnh tâm một thời gian dành riêng ra để hồi tâm để tra vấn để xem xét để trả lời cho những vấn đề nền tảng của đời sống thiêng liêng. Dĩ nhiên không cần thiết cần có "một nơi chốn sa mạc" hiểu theo nghĩa đen nhưng vẫn cần đến một không gian thích hợp. Mùa Chay là thời gian Giáo hội sống "kinh nghiệm sa mạc" hằng năm để tự vấn về những vấn đề nền tảng trong sứ vụ của mình.

Hành Trình

Thời gian Israel đi trong sa mạc còn là một thời gian lang thang vô định một chuyển hành không định hướng. Thật ra họ đã khởi đầu từ Ai Cập và kết thúc tại bình nguyên Môap. Có hai cám dỗ xẩy ra chống lại cuộc hành trình và chúng ta cần tìm hiểu. Cám dỗ thứ nhất là muốn dừng lại muốn ổn định. Họ nói: "Thôi đủ rồi! chúng ta ở lại đây thôi!". Vẫn có những nơi tạm dừng trên lộ trình chẳng hạn ở ốc đảo Kadesh (Ds 13:26) nhưng thời gian trôi qua mau họ được lệnh phải nhổ trại tiếp tục lên đường và họ bước đi "theo lệnh của Đức Chúa" (Ds 9: 17- 18). Trong sách Đệ Nhị luật Môse nhớ lại cuộc khởi hành từ núi Sinai: Chúa phán "Các ngươi ở núi này đã lâu rồi... Hãy chuyển hướng và lên đường..." (Dnl 1:6-7). Cộng đoàn được lệnh không dừng lại chỗ nào quá lâu. Một chuyện tương tự cũng được sách Phúc âm ghi nhận trong trình thuật về sự biến hình của Chúa Giêsu: "Thưa Thầy chúng con ở lại đây thì thật là hay. Nếu Thầy muốn chúng con sẽ dựng ba lều" (Mt 17: 4). Nhưng rồi họ phải xuống núi. Có phải đây cũng là một cám dỗ mà Giáo hội và mỗi người Kitô hữu chúng ta phải đối diện? Thiên Chúa của Kinh thánh là một vị Thiên Chúa luôn kêu gọi chúng ta đi ra khỏi chỗ an toàn chỗ tiện nghi để đi vào miền tương lai vô định có ý nghĩa liều lĩnh.
Cám dỗ thứ hai còn bi đát hơn: "Và họ oán trách Môse... Tại sao ông đưa chúng tôi đi khỏi Ai Cập? (Xh 14: 11). Họ không chỉ muốn dừng lại mà còn muốn quay ngược trở lại. Họ muốn "quy cố hương". Dù được chứng kiến những dấu chỉ và phép lạ Thiên Chúa thực hiện cho họ họ cũng không màng. Họ chỉ muốn trở lại Ai Cập! Cám dỗ thứ hai về ngẫu tượng về ham muốn và nó rất bình thường. Đó là nỗi nhớ về quá khứ. Qúa khứ xem ra hấp dẫn hơn an toàn hơn. Do đó nó trở thành chỗ dựa an ủi nhưng cũng có thể là một trở ngại cho bước chân đi tới.
Chúng ta không ngạc nhiên lắm bởi vì chúng ta đều sống như vậy. Điều làm cho quá khứ trở nên hấp dẫn hơn vì nó là quá khứ đã lùi xa hiện tại. Nỗi lưu luyến quá khứ tuỳ thuộc vào khoảng cách thời gian và một sự quên lãng có chọn lọc. Chúng ta nhớ lại quá khứ đó là điều cần thiết. Nhưng hồi tưởng quá khứ phải đưa chúng ta về hiện thực và giúp chúng ta hướng về tương lai. Ngược lại trong nỗi nhớ về quá khứ chúng ta lại muốn đưa hiện tại trở ngược về quá khứ để trốn tránh tương lai.
Trong mỗi cuộc đời mỗi người chúng ta đều có những "lâu đài vang bóng một thời" chúng ta muốn trở về đó để gặm nhấm thời vàng son và tiếc nuối một tự ảnh đầy oai hùng nhưng chúng ta lại biếng trễ trong giây phút hiện tại và bỏ quên những lời mời gọi đầy thúc bách của ngày mai. Trong Kinh thánh chúng ta sẽ tìm thấy một Thiên Chúa luôn đi trước chúng ta luôn kêu gọi chúng ta đi về nơi bất định bước vào tương lai xa thẳm. Có phải đây cũng là một cám dỗ mà chúng ta luôn phải đối diện trên hành trình của đời sống Kitô hữu?
Chúng ta đã nói tới một vài điểm trong kinh nghiệm sa mạc của dân Israel. Gìơ đây chúng ta cùng tìm hiểu những gì xẩy ra trong sa mạc. Đó là Giao ước sự Thử thách và sự Hiện diện.

Giao Ước

Điều chính yếu xẩy ra trong sa mạc đối với dân Israel đó là giao ước kí kết với Giavê tại núi Sinai. Nhưng điều trước tiên chúng ta có thể tự hỏi: Tại sao Chúa không dẫn Dân đi thẳng từ lúc vượt qua Biển đỏ về đất Canaan?". Đây là mục tiêu cuối cùng nhưng cũng có nhiều mục đích trung gian khác có tầm quan trọng đặc biệt. Ông Môse đã lặp lại nhiều lần với Pharaon: Đức Chúa Thiên Chúa của người Hipri đã sai tôi nói với bệ hạ: "Hãy thả dân ta ra để chúng đi thờ phượng ta trong sa mạc" (Xh 7: 16). Dân của Giavê đến núi Sinai để học biết thờ phượng Giavê. Nhưng chúng ta cần đi xa hơn một chút. Trong hoàn cảnh bị thống trị một vấn đề hai mặt xuất hiện: người ta chịu thống trị vì bị người khác thống trị. Lịch sử đã chứng minh một cách hùng hồn rằng khi người ta được giải phóng khỏi ách thống trị họ lại mau chóng trở thành kẻ thống trị người khác. Hôm nay là kẻ bị trị ngày mai trở thành kẻ thống trị. Vấn đề ở chỗ là cả hai cùng chia sẻ một số giá trị chung cùng thống nhất một số vấn đề nền tảng nào đó. Nếu có sự bất đồng nhỏ nhoi nào thì đó chỉ là cách sắp đặt các sự vật hiện hữu mà thôi. Do đó cái xâu chuỗi của ách thống trị vẫn cứ dài thêm mắt nối. Chế độ nô lệ vẫn cứ tiếp diễn. Nếu dân Israel mới được giải phóng khỏi Ai Cập đi thẳng đến Canaan để thiết lập quyền lực tại đó họ cũng không đi khác vết rãnh này. Thay vì đến thẳng Canaan họ phải tiến về Sinai để chịu một thời gian "chỉnh huấn . Thiết lập Giao ước với Giavê Thiên Chúa giải phóng họ khỏi ách nô lệ họ được chỉ dạy một cái nhìn khác một cái nhìn khác hẳn về thực tại đón nhận một hệ thống giá trị mới và điều chỉnh một lối sống hoàn toàn khác. Sống Giao ước một cách đích thực là tôn thờ Thiên Chúa và quan tâm đến quyền lợi và nhu cầu của người khác. Cách duy nhất để bẻ gẫy xiềng xích nô lệ là trở thành người phụng sự Giavê. Trong các cám dỗ nơi sa mạc Chúa Giêsu cũng chịu đưa dẫn để đi tìm các giá trị hoàn toàn khác với ý Chúa Cha. Người sẽ là một vị Mêsia được Thiên Chúa kêu gọi hay trở thành một người quyền thế vinh quang và oai hùng? Chúng ta đều biết.
Trong Mùa Chay chúng ta được mời gọi để kiểm điểm đời sống trong ánh sáng của sự tham dự vào Giao ước của Chúa Kitô. Chúng ta được hướng dẫn để nhận ra một thực tại mới để sống các giá trị có khi khác xa với bối cảnh văn hoá hiện tại.
Chúng ta có thực sự đón nhận và thể hiện trong đời sống chúng ta không?


More...

Đôi Nét Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo (phần 3)

By NGUYỄN THÁI THANH

Giáo hội bung ra
Công đồng Vatican II đã đưa Giáo hội Công Giáo vào một con đường mới hơn sánh với 20 Công đồng trước vì không chỉ bàn tới việc củng cố nội bộ Giáo hội bảo vệ và tryền bá đức tin mà còn bắt tay với toàn thể nhân loại với mọi xã hội trao đổi chân tình với mọi tổ chức địa phương và quốc tế tôn trọng mọi nền văn minh văn hóa mọi tôn giáo trên mặt đất.
Nhân vật số một của Giáo hội Công Giáo Đức Gioan Phaolô II đã tiếp xúc với rất nhiều thành phần nhân loại không phải chỉ bằng lời nói chữ viết qua các thư từ thông điệp nhưng ngài đi khắp hoàn cầu đích thân gặp gỡ các tầng lớp dân tộc các tầng lớp xã hội. Đã nhiều lần ngài ra khỏi nước Vatican không thể tự giam hãm mình như mấy vị giáo hoàng từ năm 1870 - 1929 thời thống nhất nước Ý đến Thỏa ước Lateran. Trong 25 năm giáo hoàng tính đến năm 2003 Đức Gioan Phaolô II đã làm 99 cuộc hành hương quốc tế thăm viếng 129 quốc gia (trong đó 12 nước tại Á Châu Ba Lan: 8 lần Pháp : 6 lần Hoa Kỳ: 5 lần 134 lần phục vụ trong nước Ý và 274 lần thăm các giáo xứ thuộc giáo phận Rôma của ngài. Ngoài ra tính đến tháng 10 - 2003 ngài còn công bố 14 thông điệp mở 12 Thượng Hội đồng Giám mục thế giới và tấn phong 177 vị hồng y tuyên thánh cho 432 vị và tôn vinh 1314 chân phước.
Giáo hội Công giáo là một Hội thánh do Đức Giêsu thiết lập nhưng các phần tử trong Giáo hội cũng chỉ là các con người với tất cả hạn chế của một thụ tạo dù người được coi là hình ảnh của Thiên Chúa.
Giáo hội trải qua nhiều thăng trầm trên nhiều chặng đường lịch sử sáng ngời pha lẫn đen tối nhưng đó là một "tổ chức" chặt chẽ hoạt động liên tục 2000 năm rồi. Giáo hội sẽ còn nhiều đổi mới lớn nhỏ cách này cách khác những đổi mới có thể làm cho nhiều người phải ngỡ ngàng nhưng vẫn là Giáo hội Công giáo do Đức Giêsu thiết lập.
Nói tóm lại Công đồng Vatican II mới chỉ là một "pháo lệnh" cho cuộc đổi mới trong Giáo hội. Vì 20 thế kỷ qua biết bao thứ bám chắc vào Giáo hội mà đến nay có thứ chỉ còn là lớp vỏ khô cằn không còn ích lợi gì. Đàng khác thế giới biến đổi quá mau lẹ nguyên về mặt thông tin cũng đủ choáng ngợp rồi. Tuy nhiên sức sống của Giáo hội không phải do chính con người tạo ra không phải do uy tín quốc tế (dù hiện nay Vatican đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức theo bậc sứ thần đại sứ với 180 quốc gia) không phải do quyền lực tiền tài... nhưng do Chúa Thánh Linh.

 Tác giả: Đỗ Quang Chính SJ.

More...

Đôi Nét Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo (phần 2)

By NGUYỄN THÁI THANH

Giáo hội chia rẽ
Nếu
có hai khu vực hành chính Đông Tây riêng biệt trong đế quốc thì cũng có hai lối sống Kitô giáo trong đế quốc nhất là từ cuối thế kỷ V lúc đế quốc bên Tây sụp đổ. Thật ra Giáo hội Đông cũng như Tây đều cùng một đức tin riêng "não trạng" tôn giáo có phần khác do ảnh hưởng của những dị biệt chính trị kinh tế văn hóa. Tuy giáo hoàng Rôma vẫn được Giáo hội bên Đông công nhận là vị đứng đầu toàn Giáo hội nhưng giáo hữu bên Đông cảm thấy gượng ép khó chịu. Đặc biệt các dân tộc do Giáo hội bên Đông truyền giáo (Bulgares Slaves vùng Balkans Nga) lại chỉ công nhận Đức thượng phụ Giáo chủ Constantnople.
Xẩy ra cuộc phân ly hoàn toàn kể từ ngày 16/6/1054 khi đại diện của Đức giáo hoàng Leo IX và thượng phụ giáo chủ Constantinople Michael Cerularius ra vạ tuyệt thông lẫn nhau. Giáo hội Đức Kitô bị chia rẽ! Mãi đến ngày 7/12/1965 hai vị mục tử tối cao của Giáo hội Công giáo và Chính thống là Đức Phaolô VI và Đức thượng phụ Constantinople mới giải vạ cho nhau.
Trong thực tế hiện nay vẫn còn là hai Giáo hội: Giáo hội Công giáo Rôma và Giáo hội Chính thống chưa kể Giáo hội bên Tây từ đầu thế kỷ XVI cho đến nay xuất hiện hàng trăm Giáo hội khác lớn có nhỏ có: và Giáo hội bên Đông tức Giáo hội Chính thống cũng chia năm xẻ bẩy. Từ 50 năm gần đây phong trào Đại kết của các Giáo hội Kitô ra đời. Thiện chí mọi phía đều có nhưng làm sao thực hiện được lời "Di chúc" của Chúa Giêsu trong bữa Tiệc li khi Ngài Cầu nguyện với Đức Chúa Cha để họ nên một như chúng ta là một.

Vượt ra ngoài Châu Âu
Thế kỷ XV mở ra thời kỳ Phục hưng Châu Âu trải qua các biến cố:
- Thổ Nhĩ Kỳ chiếm đóng Constantinople (1453).
- Columbus đặt chân lên đảo Watling tại Trung Mỹ (1492).
- Đoàn thám hiểm Magellan đi vòng quanh trái đất bắt đầu từ Tây Ban Nha đến cực nam Mỹ (1520) tới Philippines vượt Ấn Độ Dương vòng qua Mũi Hảo Vọng về tới Tây Ban Nha.
- Hiêp định Tordesillas (1494) phân chia thế giới làm hai dưới quyền bảo trợ của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha.
Nhờ sự việc trên và lúc đầu qua cửa ngõ Bồ Đào Nha Tây Ban Nha Giáo hội Công Giáo cũng mở rộng tầm nhìn ra thế giới hầu Tin Mừng Đức Kitô vươn đến mọi dân tộc mọi nền văn minh khắp  năm châu. Giáo hội Công giáo gọi đó là công cuộc truyền bá đức tin ngày nay gọi là Phúc âm hóa các dân tộc. Tuy nhiên người ngoài Công giáo có khi hiểu là "thực dân tôn giáo" khi họ nhận ra lề lối truyền đạo qua các thế kỷ của một số nhà truyền giáo. Nhất là từ Công đồng Lateran giữa thế kỷ XVI nhiều vị truyền giáo mang não trạng đi "chinh phục các linh hồn" dù là đầy thiện chí quả cảm hy sinh bất chấp mọi ngăn trở dám chết cho đức tin. Cụ thể các vị mang đến một Đức Kitô đã Tây Phương hóa (ít là về bộ mặt bên ngoài): Tây Phương từ cách suy diễn đức tin đến cơ cấu tổ chức và nếp sống phụng tự cùng nghi thức kèm theo... Họ đã đem đến một nếp sống Công giáo Tây Phương khác với nếp sống tôn giáo địa phương điều mà Bộ Truyền bá Đức Tin (lập 1622) năm 1659 đã căn dặn phải tránh cho xa khi gửi 3 giám mục Đại diện Tông tòa đi Đàng Trong Đàng Ngoài và Nam Kinh.
Lịch sử đã diễn ra như vậy... Lỗi thì chẳng thiếu. Ví dụ: việc hội nhập văn hóa coi thường tôn giáo khác. Trong thiên kiến người đời thường nhìn vào những thiếu sót đó nhưng ích lợi Giáo hội mang lại cho người ta thường dễ bị quên lãng. Dù vậy lịch sử rất công bằng chúng ta tin tưởng vào quy luật ấy cũng là tin vào Chúa của lịch sử.

Giáo hội bung ra
(còn tiếp)

More...

Đôi Nét Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo (phần 1)

By NGUYỄN THÁI THANH

Hai ngàn năm lịch sử chỉ tóm lại trên mấy trang sách thì quả là khó có thể hiểu hết được cách chính xác và gãy gọn về Giáo hội Công giáo vì đây là một tập thể lớn lao "trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian" vừa thiêng liêng vừa trần thế vừa địa phương vừa toàn cầu. Vậy những dòng sau đây chỉ phác họa tổng quát đôi nét về tính lịch sử của Giáo hội Công giáo tuy đa dạng nhưng lại rất chặt chẽ chậm chạp nhưng năng động. Trải qua 20 thế kỷ mà ngày nay số tín hữu đã lên tới 1.071.920.000 trong số hơn 6 tỉ người của toàn cầu.

Từ 12 người đầu tiên
Đức Giêsu bề ngoài là con bác thợ mộc chân chất ở Nazareth chẳng có gì là cao sang quyền quý sinh ra nơi nghèo hèn cô quạnh còn chết lại càng nhục nhã thảm thương. Ngoại trừ ba năm truyền giảng Tin Mừng Ngài đã chứng minh cách trực tiếp hoặc gián tiếp tính Thiên Chúa của mình bằng ngôn từ và hành động. Ngài đã tuyển chọn 12 người làm môn đệ đầu tiên tức Mười Hai Tông Đồ.
Cái chết đau thương của Đức Giêsu đã làm cho 11 tông đồ còn lại và những người thân tín hoảng sợ. Họ hầu như thất vọng hoàn toàn. Đức Giêsu phục sinh rồi nhưng họ vẫn bán tín bán nghi chưa lấy lại được bình tĩnh an hòa. Nhưng từ giây phút Thánh Linh bất ngờ xuất hiện các ông được biến đổi hoàn toàn. Não trạng thay đổi tư duy cũng khác lạ lời nói hành động không còn là não trạng bình thường vì đã vượt quá tầm mức thế gian của họ bỏ xa mội trường chài lưới trước đây. Rõ ràng là không còn là họ như xưa nữa!
Họ đã dám mở tung cửa nhà đón tiếp bà con xa gần lại còn ra công hội gặp gỡ báo cho mọi người hay Tin Mừng: Thầy của họ Đức Giêsu đã phục sinh. Đâu còn phải co rúm run rẩy như trước đây một xu dính túi cũng không uy quyền chẳng có kiến thức đâu bằng các Kinh sư Pharisiêu thế mà với hai bàn tay trắng họ đã dám ngang nhiên vào tận đền thờ Jerusalem trung tâm xã hội tôn giáo Do thái để "đối mặt" với những vị đầy uy thế quyền lực tại đó.
Họ đã củng cố lòng tin cho bao nhiêu người và làm cho hàng vạn kẻ tin vào Đức Giêsu. Nói chung họ đã quy tụ những người này thành một Giáo hội sơ khai tại Jerusalem và những vùng lân cận. Luật sống cao trọng nhất mà Đức Giêsu truyền cho họ phải thi hành hàng ngày chỉ gồm một động từ "yêu": yêu Chúa yêu người. Đã yêu thì chia sẻ cụ thể cho nhau đặc biệt trong bữa tiệc Thánh thể nên họ đã để mọi sự làm của chung không còn cò kè lo giữ của cải theo kiểu "đồng tiền liền khúc ruột".
Tầm nhìn của các môn đệ Đức Giêsu không ngừng lại ở Giudea Galile không còn giới hạn trong vùng Palestine nhưng xa hơn tới các dân ngoại; hơn nữa các ông còn băng mình sang trung tâm văn hóa Hi Lạp đến tận kinh thành Rôma.
Đế quốc Rôma sau 5 thế kỷ với chế độ cộng hòa bắt đầu mở rộng qua Trung Đông dưới thời hoàng đế Augustus rồi được bành trướng rộng lớn nhất đời Trajanus (98 - 174) lan ra các phía Nam Âu Đông Nam Âu Tiểu Á Trung Đông Bắc Phi. Đế quốc Rôma một đế quốc hùng mạnh nhất thời đó mà vị hoàng đế cực kì uy quyền tự cho mình là Pontifex Maximus. Với danh hiệu này ông còn là lãnh tụ một thứ tôn giáo phiếm thần. Chính hoàng đế cũng là đối tượng tôn thờ của dân: đối với đế quốc Rôma bên Đông ông được coi là thần ngay khi còn sống; với thần dân phía Tây ông được coi là thần khi đã băng hà. Người dân trong đế quốc phải tôn kính hoàng đế như vị thần mới tỏ ra là một công dân đích thực.
Khi Jerusalem bị phá hủy bình địa do 50.000 quân của hoàng đế Titus năm 70 nước Do Thái cũng biến mất dân chúng di tản khắp đế quốc trong số này cũng có những người sống chết theo Đức Giêsu. Thế là họ trở thành những hạt giống Tin Mừng trong toàn đế quốc Rôma làm nên những nhóm Kitô hữu sinh động lan tràn tới cả Bắc Phi. Trên bản đồ đế quốc Rôma ngay vào giữa thế kỉ III nhiều trung tâm lớn Kitô giáo thành hình tại Rôma Milan Lyon Corinth Caesarea Antioch Alexandria Damascus Carthage Cyrene...
Vào thế kỷ III nhiều dân tộc Bắc Âu và Đông Âu như Jutes Angles Saxons Frans Sueves Ostroguths Visigoths Hung Alamans Germans... tràn vào đế quốc bên Tây (người Rôma gọi họ là bọn Man di) làm cho đế quốc suy yếu dần rồi tàn lụi hoàn toàn vào năm 476. Trái lại đế quốc bên Đông còn trụ được và phát triển trong gần 10 thế kỉ nữa tức năm 1453 khi người Thổ Nhĩ Kỳ chiếm đóng Constantinople.
Vì những đợt xâm nhập như sẫm sét của các dân Bắc Âu đế quốc bên Tây rối loạn chỉ có Giáo hội nhờ giáo lý thâm sâu có tổ chức có uy tín nên chẳng những lo cho dân chúng nghèo khó bảo vệ kẻ yếu hèn mà còn hoán cải được những người đang xâm lăng đế quốc Giáo hội trở thành một "lực lượng" đứng ra dàn xếp với dân xâm lược. Uy tín của giáo hoàng Rôma mỗi ngày một lớn mạnh nên có thời kỳ điều khiển cả Nhà nước Nhà nước lại muốn điều khiển giáo hoàng. Thế kỷ VIII thời đại Carolingien ra đời với Charles Martel là người đã chặn đứng được cuộc bành trướng của Hồi giáo tại Poitiers năm 732 sau khi họ đã tiến quân như vũ bão từ Ai Cập chiếm Bắc Phi vượt Tây Ban Nha lên tới đất Pháp dù Hồi giáo mới được Đức Mohamed sáng lập tại Ả Rập năm 610. Thời kỳ này dòng họ Carolingien và Giáo hội sát cánh nhau: chính Pepin le Bref (kế vị cha là Charles Martel) sau chiến thắng tại Ý đã tặng cho giáo hoàng các vùng đất chiếm lại của người Lombards năm 756. Từ đó xuất hiện các nước Giáo hoàng (Etats Pontifi - caux); năm 800 Đức giáo hoàng Leo III phong vương cho Charlemagne con của Pepin le Bref. "Có đi có lại mới toại lòng nhau": Ngay từ thời Pepin và các vua kế tiếp nhà vua đã can dự vào nhiều việc nội bộ Giáo hội như bổ nhiệm các giám mục dù các giám mục vẫn được tự do tuyển chọn huấn luyện các linh mục và trao các giáo xứ cho các linh mục phụ trách. Thấy nhà vua can thiệp quá sâu vào việc tổ chức của Giáo hội nhất là việc bổ nhiệm các giám mục nên năm 1076 giáo hoàng Gregorius VII (1073 - 1085) ra vạ tuyệt thông cho vua Henry IV làm nhà vua mất uy tín với dân chúng năm sau 1077 chính Henry IV thân hành đến Canossa đi chân không mặc áo sám hối xin lỗi giáo hoàng.
Các nước Phương Tây quá biết uy tín giáo hoàng trong Giáo hội nên muốn "giành lấy giáo hoàng cho mình" như vụ Đức giáo ở Avignon thế kỷ XIV và những vụ lộn xộn sau đó. Cho đến năm 1870 giáo hoàng vẫn được coi như vua của Các Nước Tòa Thánh (les Etats du Saint - Siege) đâu có phải chỉ một nước Vatican nhỏ bé với 0 44 km2 như ngày nay.
Uy tín của giáo hoàng đối với nhà cầm quyền cuối thời Trung Cổ sang thời Phục Hưng đã giảm bớt nhưng vẫn còn được kính trọng nên năm 1943 Đức giáo hoàng Alexander VI đã đứng ra phân chia cho vua Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha được quyền tự do phái người đi khám phá thé giới theo hai hướng Đông Tây.
Ngoài các phấm trật trong Giáo hội còn có một bậc sống không phải giáo sĩ cũng chẳng phải là giáo dân đó là các tu sĩ dòng. Đời sống hiến dâng hay các tu sĩ dòng nói chung được khởi sự từ thế kỷ III  với Thánh Antonius tại Ai Cập trong nếp sống ẩn tu và nửa ẩn tu. Sang thế kỷ VI Thánh Benedictus (480 -547) với tu luận nổi tiếng của ngài lập ra đan viện mở đầu cho các kiểu đan tu trong Giáo hội Tây Phương. Từ đó xuất hiện nhiều loại tu trì của cả hai giới nam nữ chuyên việc chiêm nghiệm hay hoạt động do linh đạo và đặc sủng khác nhau kéo dài cho tới ngày nay. Theo thống kê của Giáo hội năm 1998 có tới 141.437 linh mục dòng trong tổng số 404.336 linh mục ngoài ra còn 58.967 tu huynh và 828.660 nữ tu. Không kể các dòng tu thuộc quyền giáo phận chỉ tính riêng các dòng tu thuộc quyền Tòa thánh ước chừng có 1.300 dòng nữ và 300 dòng nam. Đa số các linh mục dòng không làm việc mục vụ trực tiếp (cha sở cha xứ) như các linh mục triều
(giáo phận) nhưng các linh mục dòng các tu huynh và đông đảo nữ tu chẳng những đã đóng góp mà nhiều khi còn đi tiên phong nhất là trong cuốc truyền giáo từ thế kỷ XII trở đi. Các tu sĩ phục vụ mọi người và không phân biệt về ngôn ngữ thể chế chính trị trong nhiều lĩnh vực như: tôn giáo văn hóa xã hội... đặc biệt cho những người nghèo khổ bệnh tật hoặc áp bức...

Công cuộc giáo dục
Sau khi đế quốc bên Tây sụp đổ năm 476 bắt đầu mở ra thời kỳ được người ta quen gọi là thời kỳ Trung Cổ của Châu Âu. Đầu thời kỳ này các đan viện Châu Âu đóng góp nhiều nhất cho việc giáo dục dân chúng gần như là "độc quyền". Đan viện nào cũng là trung tâm giáo dục cư dân quanh đó. Ngoài ra chỉ có các giám mục mới mở các trường học chủ yếu là huấn luyện các giáo sĩ.
Nhưng sang thế kỷ XII các trường đại học ở Tây Âu ra đời việc tổ chức quy củ hơn mở rộng hơn thường có các khoa: thần học văn học y khoa. giáo luật và dân luật nhưng thần học vẫn là khoa quan trọng nhất và thời gian học lâu gấp đôi các khoa khác. Các đại học được thành lập trong thế kỷ XII và XIII: Bologne (thế kỷ XII) Valence (1209) Oxford (1214) Pari (1215) Naples (1224) Padoue (1228) Cambridge (1229) Salamanque (1230) Roma (1249) Coimbra (1279). Qua nhiều thế kỷ số các trường học lớn nhỏ do Giáo hội thành lập không phải ít đặc biệt tại những nơi nghèo nàn thiếu điều kiện hoặc chính quyền chưa thể đảm nhận được toàn bộ công cuộc giáo dục trong nước.

Giáo hội chia rẽ
(Còn tiếp)

More...